SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá ở môn Công nghệ 10

Với thời đại bùng nổ thông tin và cao trào của cuộc cách mạng 4.0, nền giáo dục lại càng phải tỏ ra là ngành đi đầu của thời đại, chính vì vậy ngày 25 ngày 01 năm 2017 thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 117/QĐ-TTg về việc tăng cường ứng dụng CNTT trong Giáo dục và đào tạo. Đồng thời, công văn số 4096/BGDĐT-CNTT về việc hướng dẫn nhiệm vụ Công nghệ thông tin năm học 2021-2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 20 tháng 9 năm 2021, đã đặt ra nhiệm vụ như sau: ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và chuyển đổi số trong đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá.

Tăng cường áp dụng hình thức dạy học trực tuyến theo quy định thông tư số 09/2021/TT-BGDĐT và phù hợp với điều kiện, nhu cầu của mỗi nhà trường trong bối cảnh dịch COVID-19. Đồng thời, phát động giáo viên xây dựng bài giảng e-Learning, ngân hàng câu hỏi trực tuyến, tư liệu, tài liệu, sách điện tử đóng góp vào kho bài giảng e-Learning, kho học liệu số, triển khai hệ thống thư viện điện tử, thí điểm triển khai các mô hình day-học trên nền tảng số như lớp học thông minh, tự học với trợ lý ảo... góp phần đổi mới căn bản và toàn diện phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá từng bước hình thành nguồn tài nguyên giáo dục mở phục vụ cho học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý và phụ huynh học sinh có thể học, nghiên cứu mọi lúc, mọi nơi.

Tại Việt Nam trong hơn 2 năm qua tình hình dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, nhiều trường học phải chuyển sang dạy học trực tuyến. Hay thay đổi hình thức học tập liên tục làm cho kế hoạch học tập bị đảo lộn. Một điều rất đáng lo ngại xảy ra đó là chất lượng đào tạo bị ảnh hưởng và phát sinh những vấn đề bất cập. Vấn đề đặt ra làm sao để hạn chế đến mức thấp nhất sự tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 đến ngành GD&ĐT; đặc biệt không làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học. Chính vì vậy, đại dịch đại dịch lần này là một cơ hội để ngành giáo dục và đào tạo chuyển đổi số, đổi mới phương pháp dạy và học, tăng cường học liệu, trang bị cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các điều kiện để thích ứng với hoàn cảnh mới một cách chủ động, hiệu quả phù hợp tình hình từng địa phương.

Môn Công nghệ được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông là điều tất yếu, nhằm chuẩn bị cho học sinh sống và làm việc trong thế giới công nghệ. Tuy nhiên một thực trạng đáng quan tâm hiện nay đó là đa số học sinh đều xem nhẹ môn Công nghệ, việc học còn thụ động và mang tính đối phó. Mặt khác, việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá ở môn Công nghệ 10 còn sơ sài và hời hợt, hiệu quả chưa cao. Để giải quyết vấn đề trên, tôi đã chọn đề tài "Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá ở môn Công nghệ 10", với mong muốn giúp học sinh hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực, ứng dụng công tin thông tin và chuyển đổi số vào học tập và đời sống. Đồng thời góp phần tạo ra nguồn lao động đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 đưa Việt Nam trở thành quốc gia Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

pdf 51 trang Giang Thanh 28/11/2025 3180
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá ở môn Công nghệ 10", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá ở môn Công nghệ 10

SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá ở môn Công nghệ 10
 Tên đề tài: 
 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ 
TRONG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC, KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ 
 Ở MÔN CÔNG NGHỆ 10 
 Thuộc môn: Công nghệ 
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN 
 TRƯỜNG THPT ANH SƠN 2 
 ---------------------- 
 Tên đề tài: 
 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ 
TRONG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC, KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ 
 Ở MÔN CÔNG NGHỆ 10 
 Thuộc môn: Công nghệ 
 Tác giả : Trần Thị Thu Hà 
 Tổ bộ môn: Khoa học tự nhiên 
 Năm thực hiện: 2022 
 Số điện thoại: 0979033248 
 Anh Sơn, tháng 4 năm MỤC LỤC 
 NỘI DUNG TRANG 
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1 
PHẦN 2: NỘI DUNG ĐỀ TÀI 4 
1. Cơ sở lý luận 4 
2. Cơ sở thực tiễn 10 
3. Những quan điểm và cơ sở khi áp dụng 13 
4. Thiết bị công nghệ, học liệu số và phần mềm hỗ trợ trong dạy học 
 14 
môn Công nghệ 10. 
4.1. Thiết bị công nghệ trong dạy học môn Công nghệ 10. 14 
4.2. Học liệu số trong dạy học môn Công nghệ 10. 14 
4.3. Một số phần mềm hỗ trợ trong dạy học môn Công nghệ 10. 17 
4.3.1. Phần mềm thiết kế biên tập và trình diễn 17 
4.3.2. Phần mềm hỗ trợ kiểm tra đánh giá 18 
4. 3.3. Phần mềm hỗ trợ dạy học trực tuyến. 21 
4.3.4. Phần mềm hỗ trợ quản lý lớp học và quản lý học sinh 22 
5. Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong đổi mới 
 22 
phương pháp dạy học ở môn Công nghệ 10. 
6. Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong đổi mới 
 29 
kiểm tra đánh giá ở môn Công nghệ 10. 
7. Kết quả của đề tài 33 
8. Đóng góp của đề tài 37 
8.1. Tính mới 37 
8.2. Tính khoa học 37 
8.3. Tính ứng dụng thực tiễn 37 
8.4. Tính hiệu quả 38 
PHẦN 3. KẾT LUẬN 40 
PHẦN 4. TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 
 TT TỪ/CỤM TỪ VIẾT TẮT 
1 Công nghệ thông tin CNTT 
2 Giáo viên GV 
3 Học sinh HS 
4 Phương pháp dạy học PPDH 
5 Kỹ thuật dạy học KTDH 
6 Kiểm tra đánh giá KTĐG 
 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
1. Lý do chọn đề tài 
 Với thời đại bùng nổ thông tin và cao trào của cuộc cách mạng 4.0, nền 
giáo dục lại càng phải tỏ ra là ngành đi đầu của thời đại, chính vì vậy ngày 25 
ngày 01 năm 2017 thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 117/QĐ-TTg về 
việc tăng cường ứng dụng CNTT trong Giáo dục và đào tạo. Đồng thời, công 
văn số 4096/BGDĐT-CNTT về việc hướng dẫn nhiệm vụ Công nghệ thông tin 
năm học 2021-2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 20 tháng 9 năm 
2021, đã đặt ra nhiệm vụ như sau: ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và 
chuyển đổi số trong đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá. 
Tăng cường áp dụng hình thức dạy học trực tuyến theo quy định thông tư số 
09/2021/TT-BGDĐT và phù hợp với điều kiện, nhu cầu của mỗi nhà trường 
trong bối cảnh dịch COVID-19. Đồng thời, phát động giáo viên xây dựng bài 
giảng e-Learning, ngân hàng câu hỏi trực tuyến, tư liệu, tài liệu, sách điện tử 
đóng góp vào kho bài giảng e-Learning, kho học liệu số, triển khai hệ thống thư 
viện điện tử, thí điểm triển khai các mô hình day-học trên nền tảng số như lớp 
học thông minh, tự học với trợ lý ảo... góp phần đổi mới căn bản và toàn diện 
phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá từng bước hình thành nguồn tài 
nguyên giáo dục mở phục vụ cho học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý và phụ 
huynh học sinh có thể học, nghiên cứu mọi lúc, mọi nơi. 
 Tại Việt Nam trong hơn 2 năm qua tình hình dịch COVID-19 diễn biến 
phức tạp, nhiều trường học phải chuyển sang dạy học trực tuyến. Hay thay đổi 
hình thức học tập liên tục làm cho kế hoạch học tập bị đảo lộn. Một điều rất 
đáng lo ngại xảy ra đó là chất lượng đào tạo bị ảnh hưởng và phát sinh những 
vấn đề bất cập. Vấn đề đặt ra làm sao để hạn chế đến mức thấp nhất sự tác động 
tiêu cực của đại dịch COVID-19 đến ngành GD&ĐT; đặc biệt không làm ảnh 
hưởng đến chất lượng dạy và học. Chính vì vậy, đại dịch đại dịch lần này là một 
cơ hội để ngành giáo dục và đào tạo chuyển đổi số, đổi mới phương pháp dạy và 
học, tăng cường học liệu, trang bị cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các điều kiện để thích 
ứng với hoàn cảnh mới một cách chủ động, hiệu quả phù hợp tình hình từng địa 
phương. 
 Môn Công nghệ được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông là điều tất 
yếu, nhằm chuẩn bị cho học sinh sống và làm việc trong thế giới công nghệ. Tuy 
nhiên một thực trạng đáng quan tâm hiện nay đó là đa số học sinh đều xem nhẹ 
môn Công nghệ, việc học còn thụ động và mang tính đối phó. Mặt khác, việc 
ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra 
đánh giá ở môn Công nghệ 10 còn sơ sài và hời hợt, hiệu quả chưa cao. 
 Để giải quyết vấn đề trên, tôi đã chọn đề tài "Ứng dụng công nghệ thông 
tin và chuyển đổi số trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá 
ở môn Công nghệ 10", với mong muốn giúp học sinh hình thành và phát triển 
các phẩm chất, năng lực, ứng dụng công tin thông tin và chuyển đổi số vào học 
tập và đời sống. Đồng thời góp phần tạo ra nguồn lao động đáp ứng yêu cầu của 
 1 
 cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 đưa Việt Nam trở thành quốc gia Công 
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. 
2. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 
- Nghiên cứu tâm sinh lý lứa tuổi và một số đối tượng liên quan. 
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn trong đổi mới phương pháp dạy học, 
kiểm tra đánh giá ở môn Công nghệ 10. 
- Nghiên cứu ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong đổi mới phương pháp dạy 
học, kiểm tra đánh giá ở môn Công nghệ 10 cho học sinh lớp 10 tại trường 
THPT Anh Sơn 2 và các trường THPT trên địa bàn huyện Anh Sơn. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài. 
 - Nghiên cứu việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong đổi mới 
phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá ở môn Công nghệ 10 tại trường THPT 
Anh Sơn 2. 
 - Nghiên cứu xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm trực tuyến và tổ 
chức kiểm tra đánh giá trực tuyến trong môn Công nghệ 10 trên một số phần 
mềm kiểm tra đánh giá như azota, Quizzi, hay như trên hệ thống lms của VNPT 
 - Nghiên cứu xây dựng kho bài giảng điện tử, giáo án Elearng trong môn 
Công nghệ 10 và đưa vào sử dụng. 
4. Phương pháp nghiên cứu 
 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu về các yêu cầu 
dạy học hiện nay và các văn bản quy định hiện hành, ứng dụng CNTT và chuyển 
đổi số trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá. 
 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tiến hành khảo sát giáo viên, học sinh 
trước và sau khi áp dụng bằng phiếu khảo sát qua google form, Phỏng vấn trao 
đổi tiếp thu ý kiến, Nghiên cứu và xây dựng các sản phẩm. 
 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Tiến hành áp dụng và thực nghiệm 
sư phạm đề tài. 
 Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng công cụ toán học thống kê xử lí 
các số liệu điều tra và kết quả thực nghiệm. 
5. Tính mới, đóng góp mới của đề tài. 
 Trước tình hình diễn biến của đại dịch COVID-19, trong năm học 2020-
2021 và năm học 2020-2021 việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số đã góp phần 
ổn định và nâng cao chất lượng dạy và học, giúp việc dạy học nhất là dạy học 
trực tuyến, quản lý ở một số trường tại một số địa phương diễn ra thuận lợi, đạt 
hiệu quả cao hơn. 
 2 
 Trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, việc ứng dụng ứng dụng CNTT và 
chuyển đối số đang ngày một cấp bách, bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã 
hội nhằm giúp học sinh trang bị hành trang số, trang bị các kiến thức, kỹ năng 
cần thiết của một công dân số để tham gia vào hệ sinh thái Chính phủ số và xã 
hội số. Nhằm phát triển các kĩ năng tìm kiếm, đánh giá, quản lý được thông tin; 
giao tiếp, hợp tác, giải quyết các vấn đề an toàn, hiệu quả. 
 Đề tài đã ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong đổi mới phương pháp 
dạy học, kiểm tra đánh giá ở môn Công nghệ 10 nhằm hình thành và phát triển 
các phẩm chất, năng lực, nâng cao chất lượng dạy học, kiểm tra đánh giá phù 
hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Cũng như trang bị cho học sinh kiến thức, 
kỹ năng cần thiết để trở thành lao động toàn cầu, công dân 4.0. 
 Việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số như một làn gió mới giúp bài học 
trở nên gần gũi hơn với các video, biểu đồ, hình ảnh trình chiếu, tiếp cận thông 
tin đa dạng, kết nối thuận tiện đơn giản trên Internet, việc học trở nên năng 
động, tự chủ và hiệu quả hơn góp phần đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và 
đào tạo. 
 3 
 PHẦN II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI 
1. Cơ sở lý luận 
1.1. Tìm hiểu về công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo 
dục. 
 a. Tìm hiểu về công nghệ thông tin trong lĩnh vực giáo dục. 
 Tại Việt Nam, thuật ngữ “công nghệ thông tin” (CNTT) được giải thích là 
“tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kĩ thuật hiện đại để 
sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lí, lưu trữ và trao đổi thông tin số”, thông qua 
các tín hiệu số . Các công cụ kĩ thuật hiện đại chủ yếu là máy tính và viễn thông 
nên ngày nay, nhiều người thường sử dụng thuật ngữ “CNTT và truyền thông” 
(ICT) như một từ đồng nghĩa rộng hơn cho CNTT (IT) . 
 Nhìn chung, khi nói đến CNTT trong dạy học, giáo dục, chúng ta cần nói 
đến ba phương diện: (1) Kho dữ liệu, học liệu số, phục vụ cho dạy học, giáo 
dục; (2) Các phương tiện, công cụ kĩ thuật hiện đại như máy tính, mạng truyền 
thông, thiết bị công nghệ với đặc điểm chung là cần nguồn điện năng để vận 
hành và có thể sử dụng trong dạy học, giáo dục; (3) Phương pháp khoa học, 
công nghệ, cách thức tổ chức, khai thác, sử dụng, ứng dụng nguồn học liệu số, 
thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục. Trong phạm vi của tài liệu này, 
chúng ta quan tâm nhiều hơn đến phương diện (3) - ứng dụng CNTT nhằm nâng 
cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động dạy học, giáo dục. 
 b. Tìm hiểu chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục. 
 Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ 
chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công 
nghệ số, trong đó công nghệ số là công nghệ xử lí tín hiệu số hay CNTT . 
 Chuyển đổi số có ba cấp độ: 
 - Số hóa: tạo dạng số của các thực thể và kết nối trên mạng; 
 - Mô hình hoạt động số: khai thác các cơ hội số để xây dựng mô hình hoạt động; 
 - Chuyển đổi: Thay đổi tổng thể và toàn diện tổ chức với mô hình hoạt 
động mới. 
 Những năm gần đây ngành Giáo dục đã tăng cường ứng dụng CNTT, từ 
mức cơ bản đến nâng cao, đảm bảo các trường có website, kết nối Internet, 
phòng máy tính Tin học, thiết bị trình chiếu, thực hiện chuyển đổi số trong dạy 
học, giáo dục. Bên cạnh việc số hóa thông tin, phát triển nguồn học liệu số và 
những hệ thống cơ sở dữ liệu lớn, chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục còn 
biểu hiện qua những thay đổi về văn bản pháp lí, tạo điều kiện thuận lợi cho mô 
hình giáo dục số, đổi mới phương pháp dạy học, giáo dục, đổi mới kiểm tra, 
đánh giá HS, đảm bảo tính khách quan, hiệu quả trong giáo dục. 
 4 
 1.2. Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong đổi mới phương 
pháp dạy học, kiểm tra đánh giá. 
 a. Đổi mới hình thức, phương pháp dạy học, giáo dục. 
 Chuyển đổi số trước tiên là chuyển đổi nhận thức và điều này thể hiện rõ 
qua việc Bộ GDĐT chấp nhận hình thức tổ chức thực hiện các hoạt động dạy 
học trên hệ thống dạy học trực tuyến, thông qua môi trường Internet nhằm nâng 
cao chất lượng dạy học, phát triển năng lực sử dụng CNTT và truyền thông, thúc 
đẩy chuyển đổi số trong ngành Giáo dục, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho 
HS, tạo điều kiện để HS được học ở mọi nơi, mọi lúc. 
 Dựa trên mức độ tham gia của máy tính và ứng dụng CNTT, chúng ta có 
thể khái quát ba hình thức dạy học: 
 Dạy học trực tiếp có ứng dụng CNTT. 
 Dạy học trực tuyến hỗ trợ dạy học trực tiếp tại cơ sở GDPT. 
 Dạy học trực tuyến thay thế dạy học trực tiếp tại cơ sở GDPT, học từ xa. 
 Để đạt được các mục tiêu nêu trên, ngành Giáo dục không ngừng phát 
triển nền tảng hỗ trợ dạy và học trực tuyến, từ xa, ứng dụng triệt để CNTT trong 
công tác quản lí, dạy học, giáo dục. 
 Sự phong phú, đa dạng của nguồn học liệu số, những hình thức dạy học 
mới đã thúc đẩy sự đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy học, giáo dục, chuyển đổi 
cách tương tác giữa GV và HS trong mô hình giáo dục số. 
 Với hình thức dạy học trực tuyến thay thế dạy học trực tiếp tại cơ sở 
GDPT, học từ xa, GV cần tổ chức các giờ học trực tuyến trực tiếp, bảo đảm HS 
tương tác, trao đổi thông tin theo thời gian thực với GV và những HS khác trong 
cùng một không gian học tập. 
 Dù đổi mới phương pháp, tổ chức dạy học, giáo dục có ứng dụng CNTT 
theo hình thức nào, GV cũng cần có: hiểu biết nội dung dạy học (Content 
Knowledge) để dạy đúng và dạy đủ; hiểu biết sư phạm (Pedagogical 
Knowledge) để dạy học hợp lí và hấp dẫn; hiểu biết công nghệ (Technological 
Knowledge) để gia tăng hứng thú, động cơ học tập của HS, đạt hiệu quả dạy học 
cao nhất 
 b. Đổi mới kiểm tra, đánh giá học sinh. 
 Những năm gần đây, việc KTĐG có nhiều đổi mới, cải tiến đột phá dựa 
trên nền tảng của CNTT. Nhiều bài thi được chuyển từ hình thức tự luận sang 
trắc nghiệm và hướng dần đến trắc nghiệm trên máy vi tính. Các phần mềm hỗ 
trợ quản lí, soạn thảo đề kiểm tra trắc nghiệm, chấm bài trắc nghiệm dựa trên 
các bản số hóa bài thi với độ chính xác cao đã giúp rút ngắn thời gian chấm bài, 
sớm công bố kết quả. Hệ thống ngân hàng câu hỏi trực tuyến của các môn học 
 5 
 và phần mềm KTĐG tập trung qua mạng phục vụ GV, HS phổ thông được tiếp 
tục xây dựng và thường xuyên cập nhật. 
 Việc kiểm tra trắc nghiệm được tổ chức trực tuyến hoặc làm bài trực tiếp 
trên máy vi tính HS sẽ nhận được kết quả phản hồi lập tức ngay khi hoàn thành 
mà không cần mất thời gian chờ đợi quá trình số hóa bài thi giấy. Đây là một 
trong những thành tựu quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả về tính khách 
quan, nhanh chóng của KTĐG trong thực tiễn phát triển giáo dục nước ta hiện 
nay. 
 Hiện nay, các trường phổ thông được phép sử dụng hồ sơ điện tử thay thế 
hồ sơ giấy, ứng dụng CNTT trong đánh giá kết quả học tập, giáo dục HS. Đặc 
biệt, HS THCS/THPT được sử dụng điện thoại trong giờ học để phục vụ cho 
việc học tập, làm bài kiểm tra trên giấy hoặc trên máy tính, hoặc thực hiện các 
bài thực hành, dự án học tập. Thậm chí, “trường hợp HS không thể đến cơ sở 
GDPT tại thời điểm kiểm tra, đánh giá định kì vì lí do bất khả kháng, việc tổ 
chức kiểm tra, đánh giá định kì được thực hiện bằng hình thức trực tuyến” cũng 
là minh chứng cho thấy việc ứng dụng CNTT trong kiểm tra, đánh giá đã có 
những bước cải tiến đáng kể, đảm bảo tính khách quan, hiệu quả trong giáo dục. 
 1.3. Vai trò của Công nghệ thông tin trong dạy học, giáo dục. 
 CNTT có vai trò rất quan trọng trong dạy học, giáo dục, cụ thể như sau: 
 a) Đa dạng hóa hình thức dạy học, giáo dục 
 Tạo điều kiện để đa dạng hóa hình thức dạy học, giáo dục, đáp ứng mục 
tiêu học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập dựa trên sự kích hoạt mối tương 
tác xã hội, khuyến khích sự tham gia của các nhà giáo dục và chuyên gia, tạo 
dựng một cộng đồng chia sẻ thông tin và nguồn tài nguyên học tập trong dạy 
học, giáo dục có trách nhiệm. Nhiều khóa học đã được xây dựng với những hình 
thức khác nhau, nhưng tựu trung lại có thể phân loại thành: dạy học trực tiếp 
hoàn toàn, dạy học trực tiếp có ứng dụng CNTT, dạy học trực tuyến hỗ trợ dạy 
học trực tiếp, hoàn toàn dạy học trực tuyến thay thế dạy học trực tiếp. Không chỉ 
HS mà nhiều người học đa dạng cũng được hỗ trợ bồi dưỡng, tự bồi dưỡng để 
nâng cao năng lực nghề nghiệp góp phần đáp ứng nhu cầu thực tiễn. 
 Hỗ trợ GV chuẩn bị cho việc dạy học, giáo dục, xây dựng kế hoạch dạy 
học, giáo dục cụ thể là kế hoạch bài dạy, làm cơ sở quan trọng cho việc tổ chức 
quá trình dạy học trong/ngoài lớp học một cách tích cực, hiệu quả. 
 b) Tạo điều kiện học tập đa dạng cho HS 
 Tạo điều kiện để người học khám phá tích cực và chủ động nguồn tri 
thức, tương tác với người dạy qua các thao tác để phát triển năng lực của bản 
thân một cách hiệu quả, không chỉ là năng lực nhận thức, năng lực thực hành có 
liên quan đến tri thức, kĩ năng mà còn năng lực CNTT và các phẩm chất có liên 
quan. Nhờ CNTT với các tính năng của nó, người học sẽ có thể tự học và chọn 
 6 
 lựa thông tin phù hợp để phát triển bản thân. Thông qua đó, người học cũng có 
điều kiện để khám phá chính mình, hoàn thiện bản thân với những tri thức, kĩ 
năng còn hạn chế bằng cách thay đổi chính mình. CNTT đặc biệt kích thích 
hứng thú học tập của HS, khuyến khích HS tư duy dựa trên nền tảng khám phá, 
thử nghiệm, có cơ hội phát triển năng lực thực tiễn, nhất là các kĩ năng phức tạp, 
các năng lực tổng hợp thông qua các điều kiện học tập đa dạng: học tập trực tiếp 
có ứng dụng CNTT, học tập trên lớp học ảo, thí nghiệm ảo... 
 Hỗ trợ HS phát triển, nâng cao năng lực thích ứng, nhất là với các điều 
kiện đặc biệt về thời gian, hoàn cảnh, để góp phần phát triển nhân cách của HS. 
Cụ thể, thúc đẩy năng lực ứng dụng của người học, nhất là năng lực ứng dụng và 
thực hành trong bối cảnh xã hội phát triển với các yêu cầu của cuộc cách mạng 
công nghệ 4.0 với sự đổi thay của công nghệ, máy móc và tự động hóa. 
 Hỗ trợ người học có thể học mọi lúc, mọi nơi, cụ thể như học qua e-
Learning hay học theo phương thức lớp học đảo ngược. 
 Giúp người học có thể chủ động về thời gian nhất là đảm bảo việc học tập 
liên tục ngay cả những điều kiện khó khăn, bất thường. CNTT đồng hành và hỗ 
trợ người học có nhu cầu đặc biệt để minh chứng cho các giá trị nhân văn của 
giáo dục và dạy học. 
 c) Hỗ trợ GV thực hiện dạy học, giáo dục phát triển PC, NL HS một 
cách thuận lợi và hiệu quả 
 Hỗ trợ hoạt động dạy học của GV, nhất là thực hiện dạy học phát triển 
PC, NL HS một cách thuận lợi và hiệu quả trong bối cảnh đổi mới căn bản và 
toàn diện giáo dục Việt Nam, một trong những tiêu điểm quan trọng là thực hiện 
chương trình GDPT 2018. Cụ thể, CNTT hỗ trợ GV chuẩn bị cho việc dạy học, 
giáo dục, xây dựng kế hoạch dạy học, giáo dục cụ thể là kế hoạch bài dạy, làm 
cơ sở quan trọng cho việc tổ chức quá trình dạy học trong/ngoài lớp học một 
cách tích cực, hiệu quả. Cụ thể như, CNTT hỗ trợ người học thiết kế kế hoạch 
bài dạy triển khai bằng các phần mềm, khai thác các phần mềm để tổ chức dạy 
học bằng trò chơi, thực hành mô phỏng, thực hành thi đua nâng cao hứng thú HS 
cũng như rèn luyện kĩ năng người học một cách chủ động dựa trên các học liệu 
tìm kiếm được. 
 Giúp điều chỉnh vai trò của người dạy và người học trong thực tiễn giáo 
dục nhằm hỗ trợ GV thực hiện hiệu quả dạy học, giáo dục phát triển PC, NL HS 
bằng việc thực thi tổ chức hoạt động học một cách tích cực, chủ động. Người 
dạy có thể là một người điều hành; người tổ chức (không còn là trung tâm của 
dạy học); người học là chủ thể có thể khai thác, sử dụng các nguồn học liệu, 
thiết bị công nghệ, phần mềm trong học tập nhằm phát triển hiệu quả NL và PC 
của mình hướng đến sự thành công trong nghề nghiệp và cuộc sống ở thời đại 
số. Sự tương tác này vừa tạo những điều kiện thuận lợi để hoạt động dạy học, 
giáo dục diễn ra trong thực tiễn, vừa đảm bảo các yêu cầu về hiệu quả mong đợi. 
 7 
 Tạo điều kiện để GV đánh giá kết quả học tập và giáo dục; nhất là tổ chức 
kiểm tra đánh giá bằng cách ứng dụng CNTT từ khâu chuẩn bị, thực hiện, giám 
sát, kiểm tra và đánh giá, hậu kiểm. CNTT còn có thể chủ động tổ chức kiểm tra 
đánh giá dựa trên các dữ liệu nội dung kiểm tra đánh giá đã được xây dựng, tiến 
hành tổ chức kiểm tra đánh giá trên nền tảng CNTT với các tính năng vượt trội 
để đảm bảo các yêu cầu về tính khách quan, công bằng của kì đánh giá. 
 Theo dõi sự tiến bộ, phát triển người học một cách hiệu quả thông qua các 
dữ liệu, các minh chứng và cơ sở đề xuất tác động dạy học, giáo dục phù hợp. 
Như các phần mềm có thể hỗ trợ việc xây dựng các bài kiểm tra, lưu trữ kết quả 
học tập và rèn luyện của người học; ghi nhận và so sánh về các diễn tiến học tập, 
sự tiến bộ của người học. Và kết quả kiểm tra nhanh và dữ liệu phân tích phản 
hồi, việc đánh giá năng lực trên máy tính mang đến những kết quả khá thuyết 
phục và có giá trị. 
 d) Tạo điều kiện tự học, tự bồi dưỡng của GV 
 CNTT có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển GV, góp phần 
đáp ứng các yêu cầu mới của việc dạy học, giáo dục: 
 Hỗ trợ việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, phát triển nghề nghiệp; kết 
nối với cơ sở đào tạo, trường đại học sư phạm và cộng đồng GV dài lâu và hiệu 
quả. Với các khóa học trực tuyến, bồi dưỡng thường xuyên và phục vụ nhu cầu 
học tập suốt đời, CNTT giúp GV rèn luyện, cập nhật và hoàn thiện bản thân sau 
khi tốt nghiệp và làm nghề. 
 Hỗ trợ và góp phần cải thiện kĩ năng dạy học, quản lí lớp học, cải tiến và 
đổi mới việc dạy học, giáo dục đối với GV bằng sự hỗ trợ thường xuyên và liên 
tục với những hình thức khác nhau 
 Giúp GV sử dụng hiệu quả nguồn học liệu, thiết bị công nghệ, công cụ 
phần mềm một cách hiệu quả trong hoạt động dạy học, giáo dục theo định 
hướng mới, kĩ năng mới từ đó phát triển năng lực nghề nghiệp thông qua việc tự 
bồi dưỡng và tự giáo dục và hoàn thiện nhân cách nghề nghiệp. Giáo dục và dạy 
học không ngừng phát triển và đồng hành với sự phát triển của khoa học; vì thế, 
CNTT với khả năng của mình sẽ cung cấp nguồn học liệu, các tri thức hiện đại 
về phương pháp, kĩ thuật dạy học, cập nhật các hướng dẫn mới có liên quan đến 
hoạt động dạy học, giáo dục của ngành để thực hiện các nhiệm vụ nghề nghiệp 
một cách hiệu quả. 
1.4. Một số yêu cầu đặt ra trong việc ứng dụng công nghệ thông tin và 
chuyển đổi số trong dạy học, giáo dục. 
 a. Đảm bảo tính khoa học 
 Ứng dụng CNTT, học liệu số và thiết bị công nghệ phải được nghiên cứu, 
dựa trên quan điểm, lí thuyết khoa học, phù hợp với các mô hình cụ thể. 
 8 
 Đảm bảo tính chính xác, đầy đủ về yêu cầu cơ bản, nguyên tắc khi ứng 
dụng, sử dụng học liệu số và tài nguyên học tập, thiết bị công nghệ và CNTT. 
 Đảm bảo logic, hệ thống và khách quan giữa nội dung dạy học với học 
liệu số, thiết bị công nghệ và CNTT khi triển khai ứng dụng. 
 Việc ứng dụng thiết bị công nghệ, học liệu số và CNTT dù ở mức nào hay 
hình thức nào cũng phải tuân thủ bản chất, các nguyên tắc dạy học, giáo dục, 
nhất là kĩ thuật tổ chức hoạt động mà người học là trung tâm. 
 Việc ứng dụng CNTT, học liệu số và thiết bị công nghệ trong dạy học, 
giáo dục cần chú ý đến tính nhất quán trong nội bộ cơ sở giáo dục, các đơn vị 
liên quan, liên ngành ngang và dọc có chú ý đáp ứng với nhu cầu của địa 
phương và cơ sở giáo dục như một yêu cầu khoa học đặt trong hệ thống và tầm 
nhìn để đảm bảo sự phát triển đồng bộ, có điểm đến. 
 b. Đảm bảo tính sư phạm 
 Đảm bảo phù hợp với quan điểm sư phạm, quan điểm về tổ chức hoạt 
động dạy học, giáo dục. 
 Đảm bảo tương thích với các đặc điểm của quá trình dạy học, giáo dục 
nhất là yêu cầu của dạy học phát triển phẩm chất, năng lực. 
 Đảm bảo tuân thủ tính logic của hoạt động tổ chức dạy học, giáo dục nhất 
là các pha của hoạt động dạy học, các bước và yêu cầu khi xây dựng và triển 
khai kế hoạch bài dạy, kế hoạch giáo dục. 
 Việc ứng dụng CNTT, học liệu số và thiết bị công nghệ trong dạy học, 
giáo dục đảm bảo hiệu quả sư phạm nhất là hiệu quả đạt được mục tiêu, yêu cầu 
cần đạt hay chuẩn đầu ra nhưng cần được xem xét trong mối quan hệ với kinh 
phí, thời gian, công sức đầu tư trên bình diện hiệu suất tổng thể. 
 c. Đảm bảo tính pháp lí 
 Đảm bảo các hướng dẫn cơ bản, quy định về ứng dụng CNTT trong dạy 
học, giáo dục của Bộ GDĐT đã ban hành. 
 Đảm bảo các quy định về quản lí và tổ chức dạy học trực tuyến, cụ thể là 
hoạt động dạy học, kiểm tra, đánh giá, học liệu và quản lí, lưu trữ hồ sơ dạy học 
trực tuyến. 
 Tuân thủ Luật An ninh mạng, Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. 
 d. Đảm bảo tính thực tiễn 
 Điều kiện kinh nghiệm của cơ sở, đội ngũ và các yêu cầu khác. 
 Năng lực, ứng dụng CNTT, học liệu số và thiết bị công nghệ của giáo 
viên và cán bộ quản lý. 
 Khả năng của học sinh, sự đồng thuận của phụ huynh, dư luận của xã hội. 
 9 
 2. Cơ sở thực tiễn 
2.1. Xuất phát từ tình hình dịch COVID-19 hiện nay. 
 Dịch Covid-19 bùng phát tại Vũ Hán, Trung Quốc, rồi lan rộng ra thế giới, 
trở thành một cuộc khủng hoảng tồi tệ về kinh tế, y tế, giáo dục lớn nhất trong 
90 năm qua. Tại Việt Nam trong 3 năm qua, ngành giáo dục đã phải đối mặt với 
những hệ quả nghiêm trọng do đại dịch để lại. Dù đã có nhiều điều chỉnh để 
thích ứng với hoàn cảnh mới nhưng cũng không thể phủ nhận chất lượng giáo 
dục bị ảnh hưởng. Chính vì vậy, việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số ở 
trường tiểu học là việc làm rất cần thiết, quan trọng giúp bảo đảm chất lượng 
dạy và học trong bối cảnh dịch bệnh như hiện nay. 
2.2. Từ phía chương trình sách giáo khoa môn Công nghệ 10. 
 Sách giáo khoa Công nghệ 10 được soạn thảo cách đây hơn 10 năm do đó 
một số kiến thức không còn mới, số liệu không còn phù hợp với tình hình thực 
tế hiện nay dẫn đến việc dạy học và KTĐG còn nhiều bất cập. 
 Chính vì vậy, việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số sẽ giúp GV và HS 
tiếp cận được nguồn tri thức đa dạng, phong phú một cách nhanh chóng. Giúp 
quá trình dạy và học hấp dẫn, sinh động và lôi cuốn hơn. 
2.3. Từ phía đội ngũ GV 
 Đầu năm học 2021-2022 tôi đã tiến hành tìm hiểu, khảo sát một số giáo 
viên đang giảng dạy môn Công nghệ 10 với các câu hỏi sau: GV thực hiện việc 
ứng dụng CNTT và chuyển đổi số vào dạy học như thế nào? GV đã sử dụng các 
thiết bị công nghệ, đã khai thác, sử dụng kho học liệu số và các phần mềm hỗ trợ 
dạy học, KTĐG ở mức độ nào? 
 Qua tìm hiểu tôi nhận thấy: các GV đã có ứng dụng CNTT và chuyển đổi 
số trong quá trình dạy học. Đã có khai thác, sử dụng thiết bị công nghệ, kho học 
liệu số và các phần mềm hỗ trợ dạy học, KTĐG nhưng chưa thường xuyên, chủ 
yếu mới sử dụng phần mềm biên tập và trình diễn Powerpoint trong một số tiết 
dạy. Đặc biệt, đầu năm học 2021-2022 trước tình hình diễn biến phức tạp của 
dịch COVID-19, việc dạy và học được chuyển từ hình thức dạy học trực tiếp 
sang dạy học trực tuyến. Bản thân tôi và các GV luôn băn khoăn, trăn trở làm 
thế nào để việc dạy học đạt được hiệu quả, quản lí lớp học, theo dõi tiến độ học 
tập của HS cũng như KTĐG như thế nào khi học trực tuyến? 
 Để giải quyết những băn khoăn lo lắng trên thì việc ứng dụng CNTT và 
chuyển đổi số là rất cần thiết, giúp việc dạy và học được diễn ra mọi lúc, mọi 
nơi, đảm bảo chương trình học tập. Qua đó, giúp GV rèn luyện được kỹ năng sử 
dụng CNTT vào dạy học, KTĐG và HS rèn luyện các phẩm chất, năng lực cần 
thiết để sống, học tập và làm việc trong bối cảnh dich bệnh hiện nay cũng như 
bắt kịp xu thế của thời đại công nghệ 4.0. 
 10 
 2.4. Từ phía các em HS 
 2.4.1. Đối tượng tìm hiểu 
 Tháng 9 năm học 2021-2022, tôi tiến hành khảo sát học sinh lớp 10 tại 
trường THPT tôi đang công tác. Với mục đích tìm hiểu hứng thú của học sinh 
đối với việc môn Công nghệ 10? Việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số đã 
được vận dụng vào quá trình dạy học môn Công nghệ 10 chưa? Với mức độ như 
thế nào? Học sinh có hứng thú như thế nào đối với việc giáo viên ứng dụng 
CNTT vào đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá? HS đã tham gia KTĐG trực 
tuyến đối với môn Công nghệ 10 hay chưa? Tham gia với mức độ nào? Và tầm 
quan trọng của ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong quá trình học tập của 
bản thân, nhà trường và xã hội như thế nào? 
 2.4.2. Phương pháp tìm hiểu 
 Tiến hành khảo sát học sinh (Được tiến hành trước khi áp dụng đề tài) qua 
google form với link sau: 
 Nội dung phiếu tìm hiểu thực trạng ứng dụng CNTT và chuyển đổi số 
trong môn Công nghệ được trình bày chi tiết tại phụ lục 1. 
 2.4.3. Kết quả điều tra 
 Qua kết quả điều tra bằng phiếu khảo sát trên Google form và từ nhiều nguồn 
thông tin khác về việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong đổi mới phương pháp 
dạy học, kiểm tra đánh giá ở môn Công nghệ 10, có kết quả như sau: 
 Biểu đồ thể hiện mức hứng thú đối với Công nghệ 10. 
 Biều đồ sẵn sàng tham gia các hoạt động học tập trong môn Công nghệ 10. 
 11 
 Biểu đồ tham gia các tiết học có ứng dụng CNTT và chuyển đổi số (như 
sử dụng các thiết bị công nghệ, khai thác các học liệu số, sử dụng các phần 
mềm như Powerpoint, Quizziz, Azota, Padlet,...) trong môn Công nghệ 10. 
 Biểu đồ tham gia làm bài KTĐG trực tuyến trong môn Công nghệ 10. 
 Biểu đồ tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong 
đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá ở môn Công nghệ. 
 Học sinh luôn xem nhẹ môn Công nghệ 10 và ít đầu tư thời gian vào việc 
học môn này ở trường cũng như ở nhà. Đa số còn mang nặng tâm lí qua loa, đối 
phó. Nhiều em chưa sẵn sàng tham gia vào các hoạt động học tập. Chưa từng 
tham gia KTĐG trực tuyến, còn ít ứng dụng CNTT vào quá trình học tập và 
kiểm tra. Chưa thấy được sự cần thiết và quan trọng của việc ứng dụng CNTT 
và chuyển đổi số trong môn Công nghệ 10 đối với bản thân, giáo viên, nhà 
trường và xã hội. 
 12 
 3. Những quan điểm và cơ sở khi áp dụng 
 Thứ nhất, theo các quan điểm và văn bản chỉ đạo đổi mới giáo dục của Bộ 
và của Sở giáo dục đào tạo (Tập trung vào đổi mới căn bản và toàn diện giáo 
dục, ứng dụng CNTT hỗ trợ đổi mới nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra 
đánh giá, đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở 
trung học phổ thông, thể hiện rõ nét trong dạy học theo hướng nghiên cứu bài 
học, dạy học theo chủ đề, dạy học theo định hướng phát triển năng lực người 
học, mở rộng hoạt động học tập ra bên ngoài lớp học,... nhằm phát triển phẩm 
chất và năng lực người học, hài hoà đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy 
nghề). 
 Thứ hai, thời đại công nghệ 4.0 cung cấp lượng thông tin ở quy mô rất lớn, tốc 
độ truyền tải nhanh chóng, phương pháp học tập đa dạng, cách thức sắp xếp và tìm 
kiếm khoa học, tiến bộ. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 làm thay đổi sâu sắc nền 
giáo dục. Và nền giáo dục phải thay đổi để đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Cũng 
như các thiết bị như máy tính, máy tính bảng, thiết bị smart phone rất phổ biến trong 
giáo viên, trong gia đình học sinh. Đây là điều kiện thuận lợi, là căn cứ để giáo viên 
tiến hành ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong đổi mới phương pháp dạy học, 
kiểm tra đánh giá ở môn Công nghệ 10. 
 Thứ ba, ngành giáo dục đã phải đối mặt với những hệ quả nghiêm trọng 
do đại dịch để lại. Đại dịch COVID-19 đã đặt ra cho ngành GD&ĐT nhiều thách 
thức, là làm sao để hạn chế đến mức thấp nhất sự tác động tiêu cực của đại dịch 
COVID-19 ảnh hưởng đến việc dạy và học; đặc biệt không làm ảnh hưởng đến 
chất lượng giáo dục. Chính vì vậy, đại dịch lần này được xem như là một cơ hội 
để những người làm trong ngành GD cũng như HS chuyển đổi phương pháp dạy 
và học, đẩy mạnh ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong dạy học, KTĐG 
nhằm thích ứng với hoàn cảnh mới. 
 Thứ tư, theo quan điểm của tâm lý học dạy học và tâm lý học lứa tuổi. Học 
sinh THPT bước vào thời kỳ đầu của tuổi thanh niên về sinh học, cấu trúc não 
đã phát triển tương đối hoàn thiện, các khả năng tư duy, phân tích, đánh giá, cảm 
giác, tri giác,... cũng dần hoàn thiện. Khả năng tự ý thức phát triển, hình thành 
thế giới quan, có xu hướng nghề nghiệp, hoạt động giao tiếp phát triển. Giáo 
viên cần nắm được những điểm này để chỉ dẫn, khuyến khích các em thể hiện 
bản thân, phát huy hết khả năng trong học tập, có định hướng nghề nghiệp rõ 
ràng và đúng hướng. 
 Thứ năm, căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh thực tiễn, tình hình thực tế ở địa 
phương nơi trường đóng để tiến hành xây dựng kế hoạch giảng dạy, triển khai ứng 
dụng CNTT và chuyển đổi số trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh 
giá ở môn Công nghệ 10 phù hợp với từng đối tượng học sinh, phù hợp với vùng 
miền. 
 13 
 Thứ sáu, trong quá trình dạy học môn Công nghệ 10 tôi xem việc ứng 
dụng CNTT và chuyển đổi số là việc quan trọng góp phần đổi mới PPDH, 
KTĐG. Qua đó nhằm điều chỉnh quá trình dạy và học của GV và HS. Đồng thời, 
để đẩy mạnh ứng dụng CNTT hỗ trợ đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, 
kiểm tra đánh giá trong tất cả các môn học theo đúng chỉ đạo của quyết định số 
117/QĐ-TTg ngày 25 ngày 01 năm 2017 thủ tướng Chính phủ ban hành về việc 
tăng cường ứng dụng CNTT trong Giáo dục và đào tạo. Cũng như, công văn số 
4096/BGDĐT-CNTT về việc hướng dẫn nhiệm vụ Công nghệ thông tin năm học 
2021-2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 20 tháng 9 năm 2021, tôi 
đã tiến hành sử dụng thiết bị công nghệ, khai thác học liệu số và sử dụng một số 
phần mềm hỗ trợ quá trình dạy học và KTĐG môn Công nghệ 10 góp phần đổi 
mới căn bản và toàn diện giáo dục. 
4. Thiết bị công nghệ, học liệu số và phần mềm hỗ trợ trong dạy học môn 
Công nghệ 10. 
4.1. Thiết bị công nghệ trong dạy học môn Công nghệ 10. 
 Thiết bị công nghệ hỗ trợ hoạt động dạy học và giáo dục hiện nay khá đa 
dạng và phong phú. Theo các Thông tư số 16/2019/TT-BGDĐT ngày 04/9/2019 
và Thông tư số 44/2020/TT-BGDĐT ngày 03/11/2020 của Bộ Giáo dục và Đào 
tạo quy định về Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu, thiết bị CNTT dùng chung 
cho trường phổ thông có thể kể đến như: máy chiếu đa năng và màn chiếu; máy 
chiếu vật thể; tivi; máy vi tính (để bàn hoặc xách tay); thiết bị âm thanh; radio-
cassette; máy in laser; máy ảnh kĩ thuật số. Ngoài ra một loại thiết bị quan trọng 
hiện nay mà rất nhiều môn học cần dùng đến là thiết bị kết nối mạng và đường 
truyền Internet. 
4.2. Học liệu số trong dạy học môn Công nghệ 10. 
 Môn Công nghệ 10 có nguồn tài nguyên, học liệu số đa dạng, gồm: giáo 
trình điện tử, sách giáo khoa điện tử, bài trình chiếu đa phương tiện, bảng dữ 
liệu, dữ liệu thống kê, bài kiểm tra, phiếu đánh giá dưới dạng tệp tin; các bài 
phát biểu, chương trình truyền hình, các loại hình ảnh, video dưới dạng tệp tin 
âm thanh và hình ảnh, hay các trang web chia sẻ tài nguyên, học liệu số dưới 
dạng các địa chỉ liên kết link hay URL. 
 Giáo viên có thể tìm kiếm, khai thác nguồn học liệu số có sẵn trên Internet 
hoặc tự xây dựng, phát triển các học liệu số bằng các công cụ, phần mềm nhằm 
hỗ trợ hoạt động dạy học, giáo dục. 
 Hệ thống tri thức việt số hóa cung cấp đa dạng các 
loại học liệu số phục vụ cho hoạt động dạy học, giáo dục như giáo án điện tử, 
bài giảng dạy trên truyền hình, sách giáo khoa điện tử, thí nghiệm ảo,... 
 14 
 Hình ảnh kho bài giảng Elearning môn Công nghệ 10 và hướng dẫn 
 sử dụng phần mềm dạy học trên 
 Hoặc GV có thể khai thác học liệu số từ thư viện trực tuyến VIOLET 
 là một hệ thống mạng xã hội phục vụ cộng đồng giáo viên, học 
sinh Việt Nam, cho phép giáo viên có thể chia sẻ các loại tài liệu phục vụ dạy và 
học, trong phạm vi từ Mầm non đến THPT. Hiện có 9 triệu thành viên với số 
lượng bài giảng khổng lồ: 4,5 triệu tài liệu với đầy đủ các môn học từ cơ bản đến 
nâng cao. Hiện tại nguồn học liệu môn Công nghệ 10 rất đa dạng và phong phú với 
2358 bài giảng điện tử chủ yếu được tạo ra từ phần mềm Powerpoint, 479 đề kiểm 
tra và 902 giáo án được lưu dưới dạng tệp tin word, PDF. GV và HS có thể khai 
thác, tham khảo và vận dụng vào quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá cũng như quá 
trình tự học có hướng dẫn. 
 Hình ảnh bài giảng điện tử, giáo án, đề kiểm tra môn Công nghệ 10 
 trên 
 15 
 Giáo viên có thể khai thác một số trang web sau và 
 Hình ảnh giáo án, đề kiểm tra môn Công nghệ 10 trên và 
 Với môn Công nghệ 10 để sử dụng video giáo viên công cụ tìm kiếm 
google search để tìm kiếm các video hoặc sử dụng nguồn video từ các kênh 
truyền hình như VTV 16 chương trình bạn của nhà nông, VTV 2,... 
 Vi deo Tác hại của thuốc bảo vệ thực vật đối với con người và môi trường 
với link 
 Ví dụ: Bài 48: Chế biến sản phẩm cây công nghiệp và lâm sản GV có thể 
sử dụng một số video sau sẽ giúp bài 48 đầy đủ, sinh động và trực quan hơn. 
Giúp HS dễ hiểu, nhớ lâu hơn. 
- Video Quy trình công nghệ chế biến chè xanh quy mô Công nghiệp 
 16 

File đính kèm:

  • pdfskkn_ung_dung_cong_nghe_thong_tin_va_chuyen_doi_so_trong_doi.pdf