SKKN Phát triển năng lực số cho học sinh vùng nông thôn thông qua dạy học các văn bản thơ trữ tình trong SGK Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống)

Theo Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ, trong xã hội hiện nay, năng lực số là không thể thiếu đối với mỗi học sinh. Năng lực số ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất học tập, việc tìm kiếm nguồn tài liệu học tập, khả năng kết nối tri thức cũng như phát huy năng lực sáng tạo vượt ra khỏi phạm vi một lớp học hay trường học. Vì vậy, nâng cao kỹ năng số, mở rộng khả năng tiếp cận thế giới số của học sinh phải là ưu tiên hàng đầu.

Tiến bộ không ngừng về công nghệ cùng nguồn thông tin khiến năng lực kỹ thuật số trở nên cần thiết đối với mỗi học sinh. Tuy nhiên, điều kiện để phát triển năng lực số cho học sinh vùng nông thôn còn có những bất cập sau: Về phía nhà trường, cơ sở vật chất, hạ tầng mạng, trang thiết bị (như máy tính, camera, máy in, máy quét), đường truyền, dịch vụ Internet … còn thiếu, lạc hậu, chưa đồng bộ nên chưa đáp ứng yêu cầu cho chuyển đổi số nói chung và việc phát triển năng lực số cho học sinh nói riêng. Về phía giáo viên, mặc dù đã ứng dụng CNTT một cách hiệu quả trong dạy học nhưng đó mới chỉ là mức độ đầu tiên trong khung năng lực số của GV – mức độ sử dụng công nghệ để bổ sung cho những hoạt động được tổ chức trong lớp học. Rất ít giáo viên biết khai thác sức mạnh thực sự của công nghệ và thay đổi cách thức họ dạy cũng như cách học sinh học (tức mức độ 2 trong khung năng lực số). Về phía học sinh, hầu hết các em đều biết cách sử dụng thiết bị công nghệ số nhưng chưa có ý thức tự giác, chưa có sự chủ động hoặc chưa biết cách sử dụng hiệu quả thiết bị số để hỗ trợ việc học tập của bản thân.

Thực tiễn dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông trong những năm gần đây cũng cho thấy: Trong tiến trình tổ chức hoạt động dạy học, GV luôn chú trọng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển phẩm chất và năng 2 lực học sinh. Việc ứng dụng và khai thác CNTT trong dạy học ngày càng được các GV thực hiện hiệu quả. Tuy nhiên, mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học gắn với ứng dụng CNTT trong dạy học chủ yếu là nhằm phát triển phẩm chất và năng lực đặc thù của môn Ngữ văn (năng lực thẩm mĩ và năng lực ngôn ngữ). Không có nhiều GV quan tâm đến việc phát triển năng lực số cho HS. Thậm chí, vẫn có GV cho rằng nếu hướng đến phát triển năng lực số cho HS trong các tiết học Ngữ văn (nhất là các tiết đọc – hiểu văn bản) thì sẽ đánh mất chất văn trong tiết học, sẽ không phát triển được năng lực đặc thù của môn học. Do đó, họ xem việc phát triển năng lực số không phải là mục tiêu của bộ môn. Cách nhìn nhận phiến diện và có phần cực đoan đó phần nào đã trở thành rào cản vô hình đối với việc phát triển năng lực số cho HS khi học môn Ngữ văn.

Trong nhiều năm đảm nhiệm giảng dạy môn Ngữ văn khối 10, bản thân tôi đã không ngừng tìm tòi, học hỏi, tích lũy những kinh nghiệm; tích cực ứng dụng các phương pháp dạy học hiện đại và CNTT trong dạy học; có ý thức nâng cao năng lực số cho bản thân và phát triển năng lực số cho HS. Năm học 2022 – 2023, tôi được phân công giảng dạy chương trình mới của SGK Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri thức và cuộc sống). Từ thực tiễn dạy học của bản thân, tôi nhận thấy rằng: Dạy học môn Ngữ văn hoàn toàn có khả năng thực hiện tốt mục tiêu phát triển năng lực số cho HS mà không hề làm giảm đi “chất văn” trong các tiết đọc – hiểu văn bản. Trái lại, khi năng lực số của GV được nâng cao, năng lực số của HS được chú trọng phát triển qua từng tiết học thì tiết học lại càng hiệu quả.

Điều đó có nghĩa là sau mỗi tiết học Ngữ văn, HS không chỉ được phát triển các phẩm chất và năng lực đặc thù mà còn được phát triển năng lực số. Và cũng nhờ quá trình sử dụng các thiết bị số, tìm kiếm, khai thác thông tin, dữ liệu trong môi trường số hay sáng tạo sản phẩm số mà HS chủ động, sáng tạo hơn, hứng thú hơn với môn học. Từ những lý do trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm đề tài “Phát triển năng lực số cho học sinh vùng nông thôn thông qua dạy học các văn bản thơ trữ tình trong SGK Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống)”. Với những kết quả đã đạt được, tôi mong muốn được góp phần bé nhỏ của bản thân để nâng cao chất lượng và hiệu quả việc dạy học môn Ngữ văn theo mục tiêu chương trình GDPT 2018.

pdf 56 trang Giang Thanh 28/11/2025 2300
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Phát triển năng lực số cho học sinh vùng nông thôn thông qua dạy học các văn bản thơ trữ tình trong SGK Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Phát triển năng lực số cho học sinh vùng nông thôn thông qua dạy học các văn bản thơ trữ tình trong SGK Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống)

SKKN Phát triển năng lực số cho học sinh vùng nông thôn thông qua dạy học các văn bản thơ trữ tình trong SGK Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống)
 BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT 
 Viết tắt Từ ngữ đầy đủ 
 GV Giáo viên 
 HS Học sinh 
 THPT Trung học phổ thông 
 GD Giáo dục 
 GDPT Giáo dục phổ thông 
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo 
CNTT-TT Công nghệ thông tin – truyền thông 
 SKG Sách giáo khoa 
 PPDH Phương pháp dạy học 
 KTĐG Kiểm tra đánh giá 
 NXB Nhà xuất bản 
 1 
 PHẦN I. MỞ ĐẦU 
 1. Lí do chọn đề tài 
 1.1. Theo quyết định số 749/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chương trình 
Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” được Thủ tướng 
Chính phủ kí ngày 03/6/2020, giáo dục là lĩnh vực được ưu tiên chuyển đổi số thứ 2 
sau lĩnh vực Y tế. Điều đó cho thấy việc chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục không 
chỉ đóng vai trò hết sức quan trọng đối với ngành mà còn tác động rất lớn đối với 
đất nước. Chuyển đổi số trong giáo dục là việc áp dụng công nghệ dựa vào mục đích, 
cơ cấu tổ chức của cơ sở giáo dục và được ứng dụng dưới 3 hình thức chính: Ứng 
dụng công nghệ trong lớp học; ứng dụng công nghệ trong phương pháp dạy học và 
ứng dụng công nghệ trong quản lý. Chuyển đổi số trong giáo dục tập trung vào hai 
nội dung chủ đạo là chuyển đổi số trong quản lý giáo dục và chuyển đổi số trong 
dạy, học, kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu khoa học. Và để thực hiện quá trình chuyển 
đổi số này trong nhà trường phổ thông, ngoài việc phát triển năng lực số cho đội ngũ 
cán bộ, giáo viên, còn cần phải chú trọng phát triển năng lực số cho học sinh. 
 Theo Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ, trong xã hội hiện nay, năng lực số là không 
thể thiếu đối với mỗi học sinh. Năng lực số ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất học 
tập, việc tìm kiếm nguồn tài liệu học tập, khả năng kết nối tri thức cũng như phát 
huy năng lực sáng tạo vượt ra khỏi phạm vi một lớp học hay trường học. Vì vậy, 
nâng cao kỹ năng số, mở rộng khả năng tiếp cận thế giới số của học sinh phải là ưu 
tiên hàng đầu. 
 1.2. Tiến bộ không ngừng về công nghệ cùng nguồn thông tin khiến năng lực 
kỹ thuật số trở nên cần thiết đối với mỗi học sinh. Tuy nhiên, điều kiện để phát triển 
năng lực số cho học sinh vùng nông thôn còn có những bất cập sau: 
 Về phía nhà trường, cơ sở vật chất, hạ tầng mạng, trang thiết bị (như máy tính, 
camera, máy in, máy quét), đường truyền, dịch vụ Internet còn thiếu, lạc hậu, 
chưa đồng bộ nên chưa đáp ứng yêu cầu cho chuyển đổi số nói chung và việc phát 
triển năng lực số cho học sinh nói riêng. 
 Về phía giáo viên, mặc dù đã ứng dụng CNTT một cách hiệu quả trong dạy 
học nhưng đó mới chỉ là mức độ đầu tiên trong khung năng lực số của GV – mức độ 
sử dụng công nghệ để bổ sung cho những hoạt động được tổ chức trong lớp học. Rất 
ít giáo viên biết khai thác sức mạnh thực sự của công nghệ và thay đổi cách thức họ 
dạy cũng như cách học sinh học (tức mức độ 2 trong khung năng lực số). 
 Về phía học sinh, hầu hết các em đều biết cách sử dụng thiết bị công nghệ số 
nhưng chưa có ý thức tự giác, chưa có sự chủ động hoặc chưa biết cách sử dụng hiệu 
quả thiết bị số để hỗ trợ việc học tập của bản thân. 
 1.3. Thực tiễn dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông trong những 
năm gần đây cũng cho thấy: Trong tiến trình tổ chức hoạt động dạy học, GV luôn 
chú trọng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển phẩm chất và năng 
 2 
 lực học sinh. Việc ứng dụng và khai thác CNTT trong dạy học ngày càng được các 
GV thực hiện hiệu quả. Tuy nhiên, mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học 
gắn với ứng dụng CNTT trong dạy học chủ yếu là nhằm phát triển phẩm chất và 
năng lực đặc thù của môn Ngữ văn (năng lực thẩm mĩ và năng lực ngôn ngữ). Không 
có nhiều GV quan tâm đến việc phát triển năng lực số cho HS. Thậm chí, vẫn có GV 
cho rằng nếu hướng đến phát triển năng lực số cho HS trong các tiết học Ngữ văn 
(nhất là các tiết đọc – hiểu văn bản) thì sẽ đánh mất chất văn trong tiết học, sẽ không 
phát triển được năng lực đặc thù của môn học. Do đó, họ xem việc phát triển năng 
lực số không phải là mục tiêu của bộ môn. Cách nhìn nhận phiến diện và có phần 
cực đoan đó phần nào đã trở thành rào cản vô hình đối với việc phát triển năng lực 
số cho HS khi học môn Ngữ văn. 
 1.4. Trong nhiều năm đảm nhiệm giảng dạy môn Ngữ văn khối 10, bản thân 
tôi đã không ngừng tìm tòi, học hỏi, tích lũy những kinh nghiệm; tích cực ứng dụng 
các phương pháp dạy học hiện đại và CNTT trong dạy học; có ý thức nâng cao năng 
lực số cho bản thân và phát triển năng lực số cho HS. Năm học 2022 – 2023, tôi 
được phân công giảng dạy chương trình mới của SGK Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri 
thức và cuộc sống). Từ thực tiễn dạy học của bản thân, tôi nhận thấy rằng: Dạy học 
môn Ngữ văn hoàn toàn có khả năng thực hiện tốt mục tiêu phát triển năng lực số 
cho HS mà không hề làm giảm đi “chất văn” trong các tiết đọc – hiểu văn bản. Trái 
lại, khi năng lực số của GV được nâng cao, năng lực số của HS được chú trọng phát 
triển qua từng tiết học thì tiết học lại càng hiệu quả. Điều đó có nghĩa là sau mỗi tiết 
học Ngữ văn, HS không chỉ được phát triển các phẩm chất và năng lực đặc thù mà 
còn được phát triển năng lực số. Và cũng nhờ quá trình sử dụng các thiết bị số, tìm 
kiếm, khai thác thông tin, dữ liệu trong môi trường số hay sáng tạo sản phẩm số mà 
HS chủ động, sáng tạo hơn, hứng thú hơn với môn học. 
 Từ những lý do trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm đề tài “Phát 
triển năng lực số cho học sinh vùng nông thôn thông qua dạy học các văn bản 
thơ trữ tình trong SGK Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống)”. Với những 
kết quả đã đạt được, tôi mong muốn được góp phần bé nhỏ của bản thân để nâng cao 
chất lượng và hiệu quả việc dạy học môn Ngữ văn theo mục tiêu chương trình GDPT 
2018. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 - Đề xuất một số giải pháp khoa học và hiệu quả để phát triển năng lực số cho 
học sinh vùng nông thôn trong dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học các văn bản 
thơ trữ tình trong SGK Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri thức và cuộc sống) nói riêng 
 - Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Ngữ văn theo mục tiêu 
chương trình GDPT 2018 
 - Góp phần thay đổi nhận thức của một số GV về việc phát triển năng lực số 
cho học sinh vùng nông thôn trong dạy học Ngữ văn 
 3 
 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 
 3.1. Khách thể nghiên cứu 
 - Việc ứng dụng CNTT trong dạy các văn bản thơ trữ tình trong SGK Ngữ 
văn 10 (Bộ kết nối tri thức và cuộc sống) của GV. 
 - Việc khai thác, sử dụng CNTT, các thiết bị công nghệ số khi học các văn 
bản thơ trữ tình trong SGK Ngữ văn 10 (Bộ kết nối tri thức và cuộc sống) của HS 
vùng nông thôn. 
 3.2. Đối tượng nghiên cứu 
 Đề tài nghiên cứu các giải pháp phát triển năng lực số cho học sinh vùng nông 
thôn thông qua dạy học các văn bản thơ trữ tình trong SGK Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối 
tri thức với cuộc sống). 
 4. Giả thuyết khoa học 
 Nếu biết vận dụng linh hoạt, hiệu quả và thường xuyên các giải pháp trong đề 
tài thì GV Ngữ văn hoàn toàn có thể giúp HS vừa phát triển các năng lực chung và 
năng lực đặc thù của môn học vừa phát triển năng lực số. Khi đó, tiết học sẽ trở nên 
sinh động, hấp dẫn hơn với HS và “nhẹ nhàng”, hiệu quả hơn với GV. 
 5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 
 5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 
 - Đề xuất một số giải pháp phát triển năng lực số cho HS vùng nông thôn 
thông qua dạy học các tác phẩm trữ tình trong SGK Ngữ văn 10 (Bộ kết nối tri thức 
với cuộc sống). 
 - Thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi, tính hiệu quả của đề tài. 
 5.2. Phạm vi nghiên cứu 
 - Về nội dung: Trong đề tài, tác giả sáng kiến sẽ chỉ tập trung nghiên cứu và 
thực nghiệm các giải pháp phát triển năng lực số cho học sinh vùng nông thôn thông 
qua dạy học các văn bản thơ trữ tình trong SGK Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri thức với 
cuộc sống) 
 - Về thời gian: Đề tài được nghiên cứu từ tháng 08/2022 đến hết tháng 
03/2023. 
 6. Phương pháp nghiên cứu 
 Để giải quyết vấn đề, tác giả sáng kiến đã sử dụng một số phương pháp chính 
sau: 
 - Phương pháp phân tích, tổng hợp 
 - Phương pháp so sánh đối chiếu 
 4 
 - Phương pháp khảo sát, thống kê 
 - Phương pháp thực nghiệm 
 7. Những luận điểm cần bảo vệ của đề tài 
 - GV hoàn toàn có thể thực hiện việc dạy các văn bản thơ trữ tình theo hướng 
phát triển năng lực số cho HS mà không làm giảm “chất văn” của bài học. 
 - HS vùng nông thôn sẽ được phát triển năng lực số cùng với các năng lực đặc 
thù của môn Ngữ văn thông qua hoạt động học các văn bản thơ trữ tình. 
 8. Đóng góp mới của đề tài 
 Việc ứng dụng CNTT để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học, đến nay, 
không còn là điều xa lạ. Tuy nhiên, việc hướng dẫn HS khai thác, sử dụng CNTT để 
học tập lại vẫn đang khá mới mẻ đối với GV cấp THPT (trong đó có GV bộ môn 
Ngữ văn). Phần lớn GV tỏ ra lúng túng, không biết phải thực hiện như thế nào để 
phát triển năng lực số cho HS (Tất nhiên, ở đây, chúng ta không bàn đến các GV 
giảng dạy môn Tin học). Vì vậy, những giải pháp mà đề tài đưa ra đã phần nào giúp 
GV kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn đó. Những giải pháp đó vừa đảm 
bảo tính khoa học vừa có tính khả thi cao, và đặc biệt là không khó để vận dụng. 
 Đối với môn Ngữ văn, GV luôn chú trọng việc tổ chức các hoạt động dạy học 
theo định hướng phát triển năng lực đặc thù của môn học (năng lực thẩm mĩ, năng 
lực ngôn ngữ) và một số năng lực chung. Đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu và sáng 
kiến ở lĩnh vực Ngữ văn có giá trị tập trung vào các giải pháp phát triển những năng 
lực nói trên. Tuy nhiên, các tài liệu hay sáng kiến chuyên môn nghiên cứu các giải 
pháp để phát triển năng lực số cho HS lại khá ít. Trong khi đó, việc phát triển năng 
lực số cho HS lại là một yêu cầu cấp thiết mà thực tiễn cuộc sống và mục tiêu của 
Chương trình GDPT mới đặt ra cho mỗi GV. Từ đó, có thể thấy, đề tài đã hướng đến 
đối tượng nghiên cứu còn khá mới trong lĩnh vực Ngữ văn. Tác giả sáng kiến mong 
muốn các giải pháp đưa ra sẽ là những định hướng, gợi ý mới mẻ, thiết thực để anh 
chị em GV tổ chức các tiết dạy đọc văn bản vừa đảm bảo phát triển phẩm chất, năng 
lực đặc thù của môn học vừa phát triển được năng lực số cho HS. 
 5 
 PHẦN II. NỘI DUNG 
 Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 
 1.1. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực số cho học sinh THPT 
 1.1.1. Khái niệm năng lực số và các yếu tố tác động đến sự phát triển năng 
lực số cho học sinh 
 Dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học là mục 
tiêu quan trọng hàng đầu của Chương trình GD phổ thông 2018. Trong đó, khái niệm 
năng lực được hiểu là “thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất 
sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các 
kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, ... 
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong 
những điều kiện cụ thể”. Chương trình đã xác định rõ những năng lực cốt lõi cần 
được hình thành và phát triển cho học sinh bao gồm: 
 a) Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn 
học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, 
năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; 
 b) Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một 
số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, 
năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng 
lực thể chất. 
 Và để thực hiện “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định 
hướng đến năm 2030” theo quyết định số 749/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ 
kí ngày 03/6/2020, cùng với những năng lực cốt lõi trên, ngành Giáo dục đã đặt ra 
mục tiêu phát triển cả năng lực số cho HS. 
 Theo định nghĩa của tổ chức UNICEF (năm 2019), năng lực số (Digital 
Literacy) đề cập đến kiến thức, kỹ năng và thái độ cho phép trẻ phát triển và phát 
huy tối đa khả năng trong thế giới công nghệ số ngày càng lớn mạnh trên phạm vi 
toàn cầu, một thế giới mà trẻ vừa được an toàn, vừa được trao quyền theo cách phù 
hợp với lứa tuổi cũng như phù hợp với văn hóa và bối cảnh địa phương. 
 Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự 
phát triển năng lực số cho HS: Môi trường xã hội của HS, hoàn cảnh gia đình, vai 
trò của nhà trường, của các tổ chức, cá nhân Trong đó, nhà trường đóng một vai 
trò quan trọng trong việc phát triển các năng lực số bao gồm khả năng sáng tạo khi 
tích hợp công nghệ kỹ thuật số như một công cụ học tập tích cực. 
 Gần đây, nghiên cứu của UNESCO cũng chỉ ra phát triển năng lực số có liên 
quan đến các yếu tố sau: Thứ nhất, năng lực số bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi việc sử 
dụng hơn là tiếp cận. Nghĩa là việc có được thiết bị CNTT-TT không đảm bảo rằng 
nó sẽ được sử dụng trong thực tế. Thứ hai, điều quan trọng không phải là thời gian 
ngồi trước máy tính mà là việc khai thác hết các chức năng của máy tính, cả ở nhà 
 6 
 và ở trường. Thứ ba, kỹ năng số bị ảnh hưởng bởi số năm trẻ sử dụng máy tính: càng 
sớm có kỹ năng số thì tác động càng lớn. Thứ tư, cần tăng cường kỹ năng về ngôn 
ngữ viết của học sinh như đọc, hiểu và xử lý văn bản để phát triển các kỹ năng số 
cho các em. Thứ năm, việc giáo viên ứng dụng CNTT-TT có mối tương quan tích 
cực với trình độ kỹ năng số của học sinh. 
 1.1.2. Khung năng lực số và các mức độ năng lực số 
 Khung năng lực số là công cụ quan trọng và hiệu quả để đo lường và đánh giá 
việc phát triển năng lực số cho HS. Khung năng lực số được xây dựng dựa trên 
những nguyên tắc khách quan và khoa học, đó là: 
 - Kế thừa các hệ thống nguyên tắc của khu vực và thế giới, vận dụng phù hợp 
với điều kiện cụ thể của Việt Nam. 
 - Tính mở, cập nhật kịp thời những sự tiến bộ của công nghệ kĩ thuật số. 
 - Kết nối với lĩnh vực khoa học liên quan đến chuyển đổi số. 
 - Phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội địa phương. 
 - Năng lực số có thể được hình thành ở gia đình, xã hội và ở nhà trường. Ở 
nhà trường năng lực số được hình thành thông qua các môn học, hoạt động giáo dục 
và đặc biệt ở môn Tin học. 
 Nội dung khung năng lực số của học sinh trung học bao gồm 7 miền năng lực, 
26 năng lực thành phần. Cụ thể như sau: 
 Miền năng lực Thành phần năng lực 
 1. Sử dụng các thiết bị kỹ 1.1 Sử dụng thiết bị phần cứng thiết bị số 
 thuật số 1.2 Sử dụng phần mềm của thiết bị số 
 2. Kĩ năng về thông tin và dữ 2.1 Duyệt, tìm kiếm và lọc dữ liệu, thông tin và 
 liệu. nội dung số 
 2.2 Đánh giá dữ liệu, thông tin và nội dung số 
 2.3 Quản lý dữ liệu, thông tin và nội dung số 
 3. Giao tiếp và Hợp tác 3.1 Tương tác thông qua các thiết bị số 
 3.2 Chia sẻ thông qua công nghệ số 
 3.3 Tham gia với tư cách công dân thông qua công 
 nghệ số 
 3.4 Hợp tác thông qua công nghệ số 
 3.5 Chuẩn mực giao tiếp 
 3.6 Quản lý định danh cá nhân 
 7 
 4. Sáng tạo sản phẩm số 4.1 Phát triển nội dung số 
 4.2 Tích hợp và tinh chỉnh nội dung số 
 4.3 Bản quyền 
 4.4 Lập trình 
 5. An toàn kĩ thuật số 5.1 Bảo vệ thiết bị 
 5.2 Bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư 
 5.3 Bảo vệ sức khỏe tinh thần và thể chất 
 5.4 Bảo vệ môi trường 
 6.Giải quyết vấn đề 6.1 Giải quyết các vấn đề kĩ thuật 
 6.2 Xác định nhu cầu và phản hồi công nghệ 
 6.3 Sử dụng sáng tạo thiết bị số 
 6.4 Xác định thiếu hụt về năng lực số 
 7. Năng lực định hướng nghề 7.1 Vận hành những công nghệ số đặc trưng trong 
 nghiệp liên quan một lĩnh vực đặc thù 
 7.2 Diễn giải, thao tác với dữ liệu và nội dung kĩ 
 thuật số cho một lĩnh vực đặc thù 
 Ở mỗi cấp học, nội dung khung năng lực số lại được xác định ở những mức 
độ cụ thể, phù hợp với lứa tuổi HS. Điều này cũng góp phần quan trọng trong việc 
phát triển năng lực số cho HS. Mức độ năng lực số được thể hiện ở mức độ nhận 
thức của HS, mức độ phức tạp của các nhiệm vụ mà HS xử lý được cũng như mức 
độ tự chủ của chính các em trong việc thực hiện nhiệm vụ. 
 Mức độ Mức độ phức tạp Mức độ tự chủ Mức độ 
 năng lực của công việc hành động nhận thức 
 1 Đơn giản Có sự hướng dẫn Nhớ, biết 
 2 Đơn giản Tự chủ một phần Hiểu 
 3 Phức tạp Tự chủ hoàn toàn Vận dụng 
 Ở cấp trung học phổ thông, HS có thể áp dụng kiến thức, thực hiện các nhiệm 
vụ khác nhau và giải quyết các vấn đề khác nhau và ngoài ra còn có thể giúp những 
người khác làm những công việc như vậy, tức là, yêu cầu phát triển năng lực số của 
HS không dừng lại ở mức độ 1 và mức độ 2 mà tiến tới đạt mức độ 3 ở các nội dung 
trong khung năng lực số. 
 8 
 1.1.3. Quy trình triển khai phát triển năng lực số cho học sinh 
 Đối với nhà trường, để triển khai phát triển năng lực số cho học sinh, cần thực 
hiện 5 bước sau theo một quy trình khép kín và liên tục: 
 - Bước 1: Đánh giá ban đầu, sử dụng khung năng lực số trong việc tổ chức 
dạy học 
 Ở bước này, nhà trường cần sử dụng một bộ công cụ đánh giá sơ bộ để điều 
chỉnh khung (về miền năng lực, năng lực thành phần và mức độ thành thạo ) để 
đảm bảo khung năng lực số được sử dụng phù hợp với đối tượng học sinh và bối 
cảnh dạy học của địa phương. 
 - Bước 2: Hướng dẫn cụ thể về khung năng lực số 
 Đây là bước nhà trường xây dựng kế hoạch tổ chức dạy học theo khung năng 
lực số trong các môn học/ hoạt động GD ở cả trong và ngoài nhà trường. 
 - Bước 3. Hướng dẫn vận hành 
 Ở bước này, nhà trường cần xây dựng và cung cấp hướng dẫn cụ thể về việc 
xây dựng, phát triển các tài nguyên học tập tương ứng và cách khai thác, sử dụng 
nội dung dạy học hiện có. Cùng với đó, cũng cần phổ biến rộng rãi khung năng lực 
số ở các định dạng khác nhau thuận lợi cho việc khai thác và sử dụng, có thể đưa lên 
website của nhà trường để học sinh và gia đình học sinh được biết. 
 - Bước 4. Triển khai thực hiện 
 Nhà trường cần quan tâm đến sự tham gia của các bên như cha mẹ học sinh, 
giáo viên, các tổ chức thuộc khu vực tư nhân; cần được xác định đúng vai trò của 
HS trong việc thiết kế và thực hiện chương trình. Đồng thời, nhà trường cũng cần 
chú đến giáo dục hòa nhập xã hội, chú ý đến các công nghệ và lĩnh vực công nghệ 
mới nổi (như trí tuệ nhân tạo, IOT, ứng dụng thực tế ảo ) và những thay đổi trong 
việc sử dụng công nghệ số. 
 - Bước 5. Đánh giá tác động 
 Ở bước này, nhà trường xây dựng kế hoạch đánh giá, xem xét điều chỉnh các 
mức độ năng lực, để đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra. 
 Còn đối với GV, để dạy học theo định hướng phát triển năng lực số cho HS, 
cần căn cứ vào khung năng lực số mà tổ/nhóm chuyên môn đã xây dựng, thực hiện 
rà soát các miền năng lực, năng lực thành phần cần sao cho phù hợp với sự phát triển 
cho học sinh trong từng khối lớp mình giảng dạy. GV phải luôn luôn xác định rõ 
nhiệm vụ của môn học trong việc hình thành năng lực số đã được thống nhất. Trên 
cơ sở đó, GV thực hiện lồng ghép vào kế hoạch giáo dục môn học với kế hoạch khai 
thác, tích hợp, sử dụng các công cụ kĩ thuật số, phần mềm để hỗ trợ phát triển năng 
lực số cho HS trong các hoạt động dạy học, giáo dục học sinh. 
 9 
 1.2. Các văn bản thơ trữ tình trong SGK Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri thức với 
cuộc sống) 
 1.2.1. Hệ thống các văn bản thơ trữ tình trong SGK Ngữ văn 10 
 Năm học 2022-2023 là năm học đầu tiên thực hiện Chương trình GDPT mới 
ở lớp 10. Ở Nghệ An, SGK Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống) được 
chọn làm tài liệu dạy và học trong nhà trường. Thực hiện khảo sát các văn bản thơ 
trữ tình được nhóm tác giả bộ sách này biên soạn, chúng tôi nhận thấy: 
 TT Văn bản Tác giả Bài học Yêu cầu 
 1 Trên cành khô Ba-sô Bài 2- Vẻ Đọc 
 con quạ đậu đẹp của thơ 
 chiều thu ca 
 2 Ôi hoa triêu nhan Chi-y-ô Đọc 
 Dây gàu vương hoa bên giếng 
 Đành xin nước nhà bên 
 3 Chậm rì, chậm rì Ít-sa Đọc 
 Kìa con ốc nhỏ 
 Trèo núi Phu-gi 
 4 Thu hứng Đỗ Phủ Đọc 
 5 Mùa xuân chín Hàn Mặc Đọc 
 Tử 
 6 Cánh đồng hoa Ngân Hoa Thực hành đọc 
 7 Bảo kính cảnh giới, bài 43 Nguyễn Bài 6 – Đọc 
 8 Dục Thúy Sơn Trãi Nguyễn Đọc 
 9 Ngôn chí, bài 3 Trãi “Dành Thực hành đọc 
 10 Bạch Đằng hải khẩu còn để trợ Thực hành đọc 
 dân cày” 
 Các văn bản thơ trữ tình trong chương trình SKG Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri 
thức với cuộc sống) được lựa chọn đa dạng và phong phú: có thơ Việt Nam và thơ 
nước ngoài (chùm thơ hai-cư của các nhà thơ Nhật Bản, thơ Đường của Trung 
Quốc); có thơ thời trung đại và thơ hiện đại; có các thể thơ cách luật và thể thơ tự 
do. Điều này một mặt tạo nên hứng thú học tập cho HS, giúp các em có cái nhìn toàn 
diện, đầy đủ về thơ trữ tình nhưng mặt khác, lại đặt ra không ít thách thức cho GV 
trong quá trình tổ chức dạy học. 
 10 
 Các văn bản thơ được sắp xếp trong hai bài học: bài 2 – Vẻ đẹp của thơ ca, 
thuộc chương trình của học kì 1 và bài 6 – Nguyễn Trãi “Dành còn để trợ dân cày”, 
thuộc chương trình của học kì 2. Trong đó, có 7 văn bản HS được học trong tiết dạy 
đọc (trên lớp), 3 văn bản HS được thực hành đọc (ở nhà). Như vậy, theo bộ sách kết 
nối tri thức với cuộc sống, HS được tiếp cận với thể loại thơ trữ tình trong suốt 
chương trình Ngữ văn 10. 
 1.2.2. Đặc điểm của văn bản thơ trữ tình trong SGK Ngữ văn 10 
 Về xuất xứ 
 Trong 10 văn bản thơ được lựa chọn đưa vào chương trình, ngoài 6 văn bản 
thơ trữ tình Việt Nam, còn có 3 văn bản thơ hai-cư của Nhật Bản, 1 văn bản thơ 
Đường của Trung Quốc. Các văn bản thơ trữ tình nước ngoài này đều là những văn 
bản xuất sắc của những nhà thơ lớn, có đóng góp quan trọng cho sự phát triển thơ ca 
của Nhật Bản và Trung Quốc – hai quốc gia có những tác động sâu sắc cũng như có 
nhiều điểm tương đồng về văn hóa, văn học với Việt Nam. Vì vậy, việc tiếp cận các 
văn bản thơ trữ tình Nhật Bản và Trung Quốc trước khi tiếp cận với các văn bản thơ 
trữ tình Việt Nam sẽ giúp cho HS có một phông nền văn hóa quan trọng và cần thiết 
để hiểu sâu hơn về thơ ca dân tộc. 
 Về thời điểm sáng tác 
 Các văn bản thơ trữ tình trong Chương trình Ngữ văn 10 được sáng tác ở 
những thời kì khác nhau. Trong đó, 8 văn bản tiêu biểu cho thơ ca thời kì trung đại 
(Việt Nam: 4 văn bản được sáng tác ở thế kỉ XV, Nhật Bản: 3 văn bản được sáng tác 
ở thế kỉ XVI, XVII, Trung Quốc: 1 văn bản được sáng tác ở thế kỉ VII); 2 văn bản 
tiêu biểu cho thơ ca thời kì hiện đại (1 văn bản thuộc phong trào Thơ mới 1932 – 
1945, 1 văn bản thơ hiện đại Việt Nam sau 1975). Điều này không những tạo ra hứng 
thú học tập cho HS mà còn giúp các em nhận thức rõ hơn đặc trưng về thi pháp của 
thơ ca ở các thời kì văn học trung đại và hiện đại. 
 Về thể thơ và quy mô 
 Các văn bản thơ trong SGK Ngữ văn 10 (cả tập 1 và tập 2) dù được sáng tác 
ở nhiều thể thơ khác nhau nhưng đều là những bài thơ xinh xắn với quy mô nhỏ và 
vừa. Thể thơ hai – cư là một trong những hình thức cô đọng nhất của thơ ca thế giới, 
cả bài thơ chỉ gồm 3 dòng thơ với 17 âm tiết. Thể thơ thất ngôn bát cú, ngũ ngôn bát 
cú là những dạng cơ bản nhất của thơ Đường luật – một thể thơ cô đọng và hàm súc 
vào bậc nhất với một mô hình thi luật chặt chẽ, hướng tới sự cân đối, hài hòa về cấu 
trúc trong toàn bộ bài thơ. Thể thơ 7 chữ và thể thơ tự do được sử dụng ở các bài thơ 
trong chương trình cũng có quy mô vừa phải (bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc 
Tử 16 dòng thơ, bài thơ “Cánh đồng hoa” của Ngân Hoa 14 dòng thơ) 
 Về nội dung và nghệ thuật 
 Các văn bản thơ trong chương trình Ngữ văn 10 đều là những văn bản tiêu 
biểu cho thể loại thơ trữ tình. Các bài thơ đều thể hiện trực tiếp cảm xúc và tâm trạng 
 11 
 của nhân vật trữ tình trước thiên nhiên và cuộc sống. Đến với những bài thơ ấy, 
người đọc không chỉ được nhìn ngắm vẻ đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống mà còn 
được hòa điệu cùng những rung động, những xúc cảm rất đỗi tinh tế của thi nhân, 
được suy ngẫm, chiêm nghiệm những triết lý nhân sinh sâu sắc mà thi nhân gửi gắm 
trong đó. 
 Mỗi bài thơ thực sự là một khám phá về nội dung và là một phát minh về hình 
thức. Ở đó, người đọc nhận ra những đặc trưng của thơ trữ tình về hình thức nghệ 
thuật như: hình ảnh thơ, vần thơ, nhịp điệu, nhạc điệu, thi luật, thể thơ Ở đó, người 
đọc cũng nhận diện được nét riêng biệt, độc đáo của mỗi hồn thơ. 
 Như vậy, qua việc khảo sát, có thể thấy, các văn bản thơ trữ tình trong SGK 
Ngữ văn 10 (Bộ kết nối tri thức với cuộc sống) đã được lựa chọn và sắp xếp có hệ 
thống, mang đặc trưng thể loại rõ nét và tiêu biểu cho vẻ đẹp của thơ ca ở những 
thời kì văn học khác nhau. Sự phong phú, đa dạng và tính mới của các văn bản trong 
chương trình chính là cơ sở quan trọng để GV Ngữ văn thực hiện dạy học theo định 
hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh một cách hiệu quả, sáng tạo. 
 12 
 Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 
 2.1. Thực trạng phát triển năng lực số cho học sinh THPT vùng nông thôn 
 2.1.1. Về phía nhà trường 
 Theo Tài liệu Tổng quan về năng lực số, nhà trường đóng vai trò quan trọng 
trong việc phát triển năng lực số bao gồm năng lực sáng tạo khi tích hợp công nghệ 
kĩ thuật số như một công cụ học tập tích cực. Nếu nhà trường muốn phát triển tốt 
năng lực số cho HS thì cần phải đầu tư vào đào tạo CNTT-TT cho GV, đồng thời hỗ 
trợ tích hợp CNTT-TT vào chương trình giảng dạy. Đây là yêu cầu không hề đơn 
giản và không phải một sớm một chiều là có thể thực hiện được, nhất là đối với các 
trường ở vùng nông thôn. 
 Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, nhiều trường học THPT ở nông 
thôn đã có sự đầu tư cơ sở vật chất hiện đại để đáp ứng yêu cầu của Chương trình 
GDPT mới. Khảo sát tại trường THPT Đặng Thai Mai đóng trên địa bàn huyện 
Thanh Giang, Thanh Chương, Nghệ An, một trường thuộc vùng nông thôn, chúng 
tôi nhận thấy: trường hiện có 02 phòng tin học, 2 phòng lab, 3 phòng chức năng 
(phòng thực hành vật lý, hóa học và sinh học) đạt chuẩn. 15/30 lớp học lắp đặt ti vi 
thông minh, trong đó 100% các lớp khối 10 có ti vi phục vụ cho việc dạy và học. 
Đây là điều kiện thuận lợi để nhà trường thực hiện mục tiêu phát triển năng lực số 
cho HS. 
 Để thực hiện mục tiêu phát triển năng lực số cho HS, các trường THPT đã chú 
ý đến quy trình triển khai khung năng lực số. Tuy nhiên, quá trình thực hiện vẫn còn 
nhiều vướng mắc và chưa thực sự đồng bộ. Chẳng hạn: ở bước hướng dẫn vận hành, 
nhiều trường chưa xây dựng, phát triển được các tài nguyên học tập tương ứng và 
cách khai thác, sử dụng nội dung dạy học hiện có. Trên website của nhà trường, chưa 
có sự phổ biến rộng rãi khung năng lực số để HS và phụ huynh HS được biết. Ở 
bước triển khai thực hiện, chưa có sự vào cuộc đồng đều giữa các tổ/nhóm chuyên 
môn. 
 Ngoài ra, hầu hết các trường, nhất là các trường vùng nông thôn, chưa quan 
tâm đến việc đầu tư vào đào tạo CNTT-TT cho GV. Phần lớn GV phải tự mày mò, 
học hỏi để năng cao năng lực CNTT-TT của bản thân để đáp ứng yêu cầu dạy học 
chương trình GDPT mới. 
 2.1.2. Về phía giáo viên 
 Qua khảo sát 48 GV đang giảng dạy tại trường THPT Đặng Thai Mai, chúng 
tôi nhận thấy: 
 Hầu hết GV nhận thức được mức độ cần thiết của việc việc dạy học theo định 
hướng phát triển năng lực số cho học sinh, chỉ có 2,1 % thấy không thực sự cần thiết. 
Khi tự đánh giá về năng lực sử dụng CNTT-TT của bản thân trong quá trình dạy 
học, 25% GV tự đánh giá ở mức tốt, 56,3% GV tự đánh giá ở mức khá, 18,7% GV 
tự đánh giá ở mức trung bình, không có GV ở mức dưới trung bình. Đây chính là 
 13 
 điều kiện thuận lợi để có thể thực hiện dạy học theo định hướng phát triển năng lực 
số cho HS. 
 Tuy nhiên, trong quá trình dạy học trên lớp, khá nhiều GV chỉ sử dụng thiết 
bị kĩ thuật số để trình chiếu nội dung bài học (45,8%). Số GV chú ý hướng dẫn HS 
tìm kiếm/ chia sẻ thông tin liên quan đến bài học hoặc trình chiếu sản phẩm học tập 
của HS qua thiết bị kĩ thuật số còn khá hạn chế (chiếm 20,8%). Và cũng có rất ít GV 
yêu cầu HS sử dụng thiết bị kĩ thuật số để hỗ trợ việc học trên lớp. Điều này cũng 
đã cho thấy mặc dù cơ bản đã nhận thức được sự cần thiết của việc dạy học theo 
định hướng phát triển năng lực số nhưng việc thực hiện vẫn chưa được đồng đều ở 
các GV và ở các môn học khác nhau. 
 2.1.3. Về phía học sinh 
 Thực trạng phổ biến dễ nhận thấy hiện nay là hầu hết HS ở vùng nông thôn 
có các thiết bị CNTT, thiết bị kĩ thuật số nhưng các em chưa có nhận thức đúng đắn 
và đầy đủ về năng lực số cũng như việc phát triển năng lực số của bản thân. Qua 
khảo sát, có 43,6% HS thấy được sự cần thiết và rất cần thiết của việc sử dụng CNTT 
và các thiết bị kĩ thuật số trong học tập. Đây là con số còn khá khiêm tốn, nhất là 
trong bối cảnh bùng nổ CNTT-TT ở mọi lĩnh vực đời sống. 
 Theo kết quả đánh giá từ phía GV và kết quả tự đánh giá của HS, năng lực sử 
dụng CNTT-TT của HS còn khá nhiều hạn chế: chủ yếu ở mức độ trung bình (50,7 
%); mức khá chỉ đạt 19 % và mức dưới trung bình chiếm 30,3 %. Trong quá trình 
học tập, các em thường xuyên sử dụng CNTT và thiết bị kĩ thuật số để tìm kiếm đề 
thi, các tài liệu học tập hoặc trao đổi, chia sẻ thông tin bài học với GV và bạn bè 
nhưng lại ít khi sáng tạo sản phẩm học tập bằng CNTT và thiết bị kĩ thuật số (mặc 
dù điều này khiến các em cảm thấy hứng thú hoặc rất hứng thú). Nguyên nhân chủ 
yếu, theo chúng tôi, là do GV chưa chú ý nhiều đến việc phát triển năng lực số cho 
HS trong quá trình dạy học trong khi bản thân các em chưa có nhu cầu và chưa được 
định hướng để phát triển năng lực số. Điều này khiến cho việc phát triển năng lực 
số cho HS, nhất là HS ở vùng nông thôn, gặp khá nhiều khó khăn. 
 2.2. Thực tiễn dạy học văn bản thơ trữ tình trong nhà trường phổ thông 
 Thơ trữ tình là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình Ngữ 
văn của cả ba khối lớp 10, 11 và 12. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến 
hành khảo sát thực trạng dạy và học văn bản thơ trữ tình đối với GV giảng dạy bộ 
môn Ngữ văn và HS ở trường THPT Đặng Thai Mai huyện Thanh Chương. Có 10 
GV và 142 HS tham gia khảo sát. Qua phát phiếu điều tra, chúng tôi đã thu lại được 
kết quả cụ thể. Kết quả này được thống kê ở phần Phụ lục 4 (xem bảng 1, 2). Từ đó, 
chúng tôi đã có một cái nhìn khá bao quát, tương đối khách quan. 
 2.2.1. Hoạt động dạy của giáo viên 
 Khi được hỏi về việc giảng dạy những văn bản thơ trữ tình trong chương trình 
Ngữ văn THPT, hầu hết GV đều cảm thấy hứng thú. Trong quá trình dạy đọc – hiểu 
 14 
 các văn bản ấy, phần lớn GV đã chú ý đến đặc trưng thể loại và biết sử dụng các 
PPDH tích cực như phát vấn, gợi mở, thảo luận nhóm kết hợp ứng dụng CNTT 
(80%) để tổ chức các hoạt động học phù hợp với HS. Chính điều này đã góp phần 
nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy học các văn bản thơ trữ tình trong 
chương trình Ngữ văn THPT. 
 Tuy nhiên, trong quá trình dạy đọc hiểu văn bản thơ trữ tình, GV cũng gặp 
không ít khó khăn. Khó khăn chủ yếu nhất vẫn là PPDH (70 %), sau đó là thái độ 
học tập của HS (30 %). 
 Về PPDH, chúng tôi nhận thấy GV giảng dạy Ngữ văn khối 10 ứng dụng 
CNTT và các thiết bị kĩ thuật số thường xuyên hơn so với các GV giảng dạy Ngữ 
văn khối 11 và 12. Việc ứng dụng CNTT và thiết bị kĩ thuật số đã giúp GV trình 
chiếu nội dung bài học khoa học và sinh động hơn, tổ chức được các trò chơi khởi 
động, thực hiện được các hoạt động chiếm lĩnh tri thức và hoạt động luyện tập thú 
vị, hấp dẫn hơn với HS. Tuy nhiên, mục tiêu mà hầu hết các GV hướng tới khi ứng 
dụng CNTT-TT nói riêng cũng như kết hợp các PPDH, kĩ thuật dạy học tích cực nói 
chung là phát triển các năng lực chung và năng lực đặc thù (năng lực ngôn ngữ và 
năng lực thẩm mĩ) của môn Ngữ văn cho HS. Rất ít GV xác định mục tiêu phát triển 
năng lực số trong quá trình dạy học của mình. Theo chúng tôi, đây chính là khó khăn 
chính của việc phát triển năng lực số cho HS trong dạy học môn Ngữ văn nói chung 
và trong dạy học các văn bản thơ trữ tình nói riêng. 
 Trong điều kiện dạy học bình thường, các GV ưu tiên hình thức kiểm tra đánh 
giá trực tiếp trên lớp. Việc thực hiện KTĐG trực tuyến hoặc qua sản phẩm học tập 
về nhà còn hạn chế, ít được chú ý. Chính điều này làm cho HS ít có điều kiện sáng 
tạo các sản phẩm số về các văn bản thơ trữ tình cũng như ít có cơ hội được định 
hướng phát triển năng lực số. 
 2.2.2. Hoạt động học của học sinh 
 HS là trung tâm, là chủ thể của quá trình dạy học. Vì thế, dạy học đọc hiểu 
văn bản nói chung cũng như dạy đọc hiểu văn bản trữ tình nói riêng cần hướng tới 
phát triển năng lực của chủ thể đó. Trên thực tế, qua khảo sát 142 HS của trường 
THPT Đặng Thai Mai huyện Thanh Chương, chúng tôi đã thu được kết quả cụ thể 
như sau: Có tới 37,3% HS không hứng thú với các văn bản thơ trữ tình - một tỉ lệ 
khá lớn. Thực trạng ấy đã đặt ra những trăn trở cho người đứng lớp: nguyên nhân vì 
sao? Làm thế nào để khơi dậy hứng thú học tập ở các em?... Bởi chỉ khi các em thấy 
yêu thích, hứng thú với những văn bản thơ trữ tình thì giờ học đó mới tránh được 
kiểu học ép buộc, không thích mà vẫn phải học. Và khi đó, giờ đọc hiểu mới thực 
sự hiệu quả. 
 Khi được hỏi về điểm không thích đối với các văn bản thơ trữ tình, gây trở 
ngại việc học thì nhiều HS cho rằng bản thân các em khó phát hiện và phân tích 
những yếu tố nghệ thuật (33,8%) và PPDH của GV chưa thực sự tạo được hứng thú 
cho các em (23,2%). Điều này cũng dễ hiểu bởi các văn bản thơ trữ tình trong chương 
 15 
 trình Ngữ văn THPT thuộc những thời đại khác nhau, được viết bằng các thể thơ 
khác nhau, mang những đặc trưng thi pháp và phong cách tác giả khác nhau. Nếu 
GV không có sự lựa chọn PPDH phù hợp, không chú ý đến mối liên hệ giữa các văn 
bản thì HS sẽ khó nắm bắt được những tín hiệu nghệ thuật của văn bản – chìa khóa 
quan trọng để hiểu nội dung và nắm vững đặc trưng thể loại. Thậm chí, có khi còn 
dẫn đến tình trạng áp đặt cách hiểu, cách cảm thụ của GV đối với HS. Chính vì vậy, 
trong dạy học môn Ngữ văn nói chung và dạy học các văn bản thơ trữ tình nói riêng, 
việc lựa chọn PPDH đóng vai trò quyết định để GV phát triển được phẩm chất và 
năng lực cho HS. 
 Để đảm bảo mục tiêu bài đọc – hiểu văn bản thơ trữ tình, cùng với sự chuẩn 
bị của người thầy, sự chuẩn bị bài của HS là thực sự cần thiết. Qua khảo sát, chúng 
tôi nhận thấy hầu hết, HS soạn bài theo kiểu chép theo tài liệu như một sự đối phó 
với GV, tỉ lệ chiếm tới 53,5%. Và vẫn có tới 11,2% HS không chuẩn bị bài trước khi 
đến lớp. Đây cũng chính là những rào cản khiến cho hiệu quả lĩnh hội kiến thức của 
HS đạt được không cao. Bởi nếu không có sự chuẩn bị bài nghiêm túc trước khi đến 
lớp, không chịu khó tìm tòi từ phía chủ thể học tập thì người dạy có cố gắng mấy 
cũng vô ích. 
 Trong quá trình học văn bản thơ trữ tình, chỉ có 8,4% HS thường xuyên sử 
dụng; 23,9% HS thỉnh thoảng có sử dụng CNTT và thiết bị kĩ thuật số để tìm hiểu 
thêm các thông tin về tác giả, tác phẩm. Đây là những con số còn quá khiêm tốn, 
cho thấy nhu cầu tự học, tự đọc các văn bản thơ trữ tình ở HS còn thấp. Đồng thời, 
kết quả khảo sát đó cũng phản ánh thực trạng tương đối phổ biến: Hầu hết GV chưa 
có sự định hướng cụ thể để HS chuẩn bị bài trước khi đến lớp (ngoài việc soạn hệ 
thống câu hỏi trong SGK). Và GV cũng ít khi giao nhiệm vụ học tập yêu cầu HS sử 
dụng CNTT và thiết bị kĩ thuật số để sáng tạo video thuyết trình về văn bản thơ trữ 
tình. 
 Như vậy, ngoài mục tiêu phát triển các năng lực chung và năng lực đặc thù 
của môn học, trong quá trình dạy đọc – hiểu văn bản thơ trữ tình, GV cần hướng tới 
mục tiêu phát triển năng lực số cho HS để góp phần nâng cao hiệu quả tiết học trên 
lớp cũng như chất lượng học tập ở nhà của HS. 
 16 
 Chương 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO HỌC SINH 
VÙNG NÔNG THÔN QUA DẠY HỌC CÁC VĂN BẢN THƠ TRỮ TÌNH 
TRONG SGK NGỮ VĂN 10 (BỘ KẾT NỐI TRI THỨC VÀ CUỘC SỐNG) 
 3.1. Hướng dẫn học sinh sử dụng thiết bị kĩ thuật số khai thác thông tin 
về tác giả, tác phẩm trữ tình 
 Thiết bị kỹ thuật số là thiết bị điện tử, máy tính, viễn thông, truyền dẫn, thu 
phát sóng vô tuyến điện và thiết bị tích hợp khác được sử dụng để sản xuất, truyền 
đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số. Trong nhà trường phổ thông, 
các thiết bị kĩ thuật số phổ biến là ti-vi, máy tính, máy chiếu và điện thoại thông 
minh. Các thiết bị này là những công cụ hỗ trợ dạy và học rất hiệu quả cho cả GV 
và HS. 
 Để thực hiện được mục tiêu phát triển năng lực số cho HS qua dạy học các 
văn bản thơ trữ tình trong SGK Ngữ văn 10 (Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống), 
trước hết, GV cần hướng dẫn các em sử dụng thiết bị kĩ thuật số (ti-vi, máy tính, 
điện thoại thông minh có kết nối mạng) trong hoạt động tự học ở nhà và trong hoạt 
động học trên lớp. 
 3.1.1. Hướng dẫn học sinh sử dụng thiết bị kĩ thuật số trong hoạt động 
chuẩn bị bài ở nhà 
 Đây là giải pháp giúp HS chủ động và tự giác hơn trong việc sử dụng thiết bị 
kĩ thuật số để chuẩn bị bài học. Để thực hiện được giải pháp này, trước hết GV cần 
có định hướng cụ thể để HS tìm hiểu về tác giả, tác phẩm trước khi học văn bản thơ 
trữ tình. Các định hướng mà GV đưa ra có thể là sự cụ thể hóa cho nội dung những 
câu hỏi trong hệ thống hướng dẫn học bài trong SGK; cũng có thể là sự bổ sung cần 
thiết những nội dung chưa đề cập đến trong Tri thức đọc văn. Các định hướng ấy 
phải hướng đến vị trí, phong cách tác giả, ảnh hưởng của cuộc đời đến sự nghiệp thơ 
ca, hoàn cảnh ra đời, thể loại, các yếu tố ngoài văn bản 
 Từ thực tiễn dạy học của bản thân, từ sự chia sẻ kinh nghiệm dạy học của các 
đồng nghiệp, tác giả sáng kiến mạnh dạn đưa ra một số định hướng cụ thể để HS 
chuẩn bị bài học như sau: 
 TT Văn bản Tác giả Định hướng tìm hiểu 
 1 Trên cành khô Ba-sô - Một số hình ảnh mang đặc trưng của đất 
 con quạ đậu nước Nhật Bản và văn hóa Nhật Bản 
 - Vị trí của các nhà thơ Ba-sô, Chi-y-ô, Ít-sa 
 chiều thu 
 trong văn học Nhật Bản 
 2 Ôi hoa triêu nhan Chi-y-ô - Các thể thơ ngắn trên thế giới 
 Dây gàu vương 
 hoa bên giếng 
 17 
 Đành xin nước - Đặc điểm của thể thơ hai-cư và một số bài 
 nhà bên thơ hai-cư tiêu biểu. 
 3 Chậm rì, chậm rì Ít-sa 
 Kìa con ốc nhỏ 
 Trèo núi Phu-gi 
 4 Thu hứng Đỗ Phủ - Các nhà thơ nổi tiếng của thơ Đường 
 - Đặc điểm thể thơ thất ngôn bát cú Đường 
 luật 
 - Lịch sử xã hội Trung Quốc thời loạn An 
 Lộc Sơn 
 5 Mùa xuân chín Hàn Mặc - Các tác giả và tác phẩm tiêu biểu của 
 Tử Phong trào thơ mới 1930 – 1945 
 - Đóng góp quan trọng nhất của thơ mới cho 
 thơ ca Việt Nam 
 - Một số ý kiến đánh giá về nhà thơ Hàn 
 Mặc Tử 
 - Các bài thơ viết về mùa xuân của các nhà 
 thơ mới 
 6 Bảo kính cảnh Nguyễn - Tập thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi: 
 giới, bài 43 Trãi vị trí của tập thơ, số bài thơ, bố cục và nội 
 dung bài thơ, sự phá cách, sáng tạo về thể 
 thơ trong tập thơ. 
 - Một số bài thơ viết ở thể thơ thất ngôn xen 
 lục ngôn của Nguyễn Trãi. 
 - Một số bài thơ ở mục Bảo kính cảnh giới 
 trong Quốc âm thi tập 
 7 Dục Thúy Sơn Nguyễn - Các câu thơ, bài thơ của Nguyễn Trãi viết 
 Trãi về danh lam thắng cảnh của đất nước. 
 - Đặc điểm thể thơ thất ngôn bát cú Đường 
 luật. 
 - Một số bài thơ hay được viết ở thể thơ thất 
 ngôn bát cú Đường luật. 
 Để có thể thực hiện nhiệm vụ tìm hiểu các thông tin về tác giả, tác phẩm được 
định hướng như trên, HS không thể chỉ dựa vào SGK Ngữ văn 10 mà còn cần phải 
tìm kiếm thêm ở các tài liệu tham khảo hoặc tìm kiếm trên mạng. Trong đó, việc tìm 
 18 
 kiếm thông tin trên mạng được xem là cách thực hiện nhanh chóng, dễ dàng, hiệu 
quả và bất cứ HS nào cũng thực hiện được ở nhà. 
 Tuy nhiên, để định hướng HS tìm kiếm thông tin trên về bài học chính xác, 
hiệu quả bằng thiết bị kĩ thuật số, GV có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau. 
Chẳng hạn như: 
 - Định hướng HS tìm kiếm trên kho học liệu trong LMS: tìm kiếm tài liệu do 
chính GV giảng dạy chuẩn bị hoặc các tài liệu của các GV khác trong nhóm tổ soạn 
thảo và chia sẻ. 
 - Định hướng HS tra cứu thông tin trên internet: sử dụng công cụ tìm kiếm 
Google, đánh từ khóa cần tìm và lựa chọn đọc các thông tin được chia sẻ ở các nguồn 
đáng tin cậy (như , , 
, ), hoặc các bài viết của các 
nhà nghiên cứu văn học uy tín. 
 - Định hướng HS đọc tài liệu GV chia sẻ trên nhóm học tập của lớp: GV có 
thể trực tiếp chia sẻ nội dung tài liệu mà mình đã chuẩn bị trong nhóm Zalo học tập 
cho các em. 
 Hình ảnh khóa học nổi bật và tài liệu khóa học trên c3dtmtc.lms.vnedu.vn mà HS 
 có thể truy cập 
 19 
 Việc HS sử dụng thiết bị kĩ thuật số để chuẩn bị bài học ở nhà theo những 
định hướng về nội dung và cách thức như trên sẽ giúp các em tự tin, chủ động, tích 
cực hơn trong quá trình học tập tại lớp. Đồng thời, các em được phát triển về kĩ sử 
dụng thiết bị kĩ thuật số và kĩ năng tìm kiếm, khai thác và đánh giá thông tin – dữ 
liệu. 
 3.1.2. Hướng dẫn học sinh sử dụng thiết bị kĩ thuật số trong tiến trình tổ 
chức dạy học trên lớp 
 Cùng với việc hướng dẫn HS sử dụng thiết bị kĩ thuật số trong hoạt động 
chuẩn bị bài ở nhà, GV cũng cần hướng dẫn các em sử dụng thiết bị kĩ thuật số trong 
tiến trình dạy học trên lớp. Điều này GV hoàn toàn có thể thực hiện tốt khi tổ chức 
các hoạt động khởi động hay chiếm lĩnh tri thức. 
 * Tổ chức hoạt động khởi động 
 Trong dạy học đọc hiểu văn bản nói chung và dạy học đọc hiểu văn bản thơ 
trữ tình nói riêng, hoạt động khởi động nhằm mục đích kích hoạt kiến thức nền ở 
HS, tạo hứng thú cho các em, đem đến không khí hứng khởi cho lớp học và tăng sự 
kết nối GV với HS. Có nhiều hình thức hiệu quả để GV tổ chức hoạt động khởi động 
trong lớp học. Chẳng hạn: 
 - Tổ chức trò chơi: GV tổ chức cho HS tham gia một số trò chơi thú vị như 
Đoán ý đồng đội, Chiếc nón kì diệu, Ai là triệu phú, Ô số bí ẩn 
 - Hoạt động động não: GV có thể sử dụng nhiều hình thức động não như là 
ghi nhanh, thảo luận nhóm đôi (think-pair-share), động não bằng tờ giấy ghi chú 
để HS tổng hợp các ý tưởng liên quan đến kiến thức nền. 
 - Xem video clip: GV có thể cho HS xem video clip liên quan đến nội dung 
bài học, sau đó, yêu cầu các em trả lời các câu hỏi mà GV đã nêu ra trước khi xem. 
 - Kể chuyện: Hoạt động kể chuyện có thể kết nối GV với HS, tạo hiệu ứng 
cảm xúc tích cực trong lớp học. GV có thể kể giai thoại về nhà văn, hoặc những câu 
chuyện có ý nghĩa liên kết với chủ đề bài học. 
 - Hoạt động trải nghiệm: GV tổ chức một số hoạt động trải nghiệm (xem tranh, 
xem đồ vật trực tiếp ) để tăng tính trực quan, sinh động cho giờ học. 
 - Hoạt động chia sẻ: Chia sẻ về trải nghiệm bản thân sẽ là một cách hay để 
giúp khơi dậy hiểu biết thực tế của HS về bài học. Đây là một cách “phá băng” để 
HS mở lòng và mạnh dạn nêu ý kiến của bản thân. 
 Khi thực hiện hoạt động khởi động hướng đến mục tiêu phát triển năng lực số 
cho HS, GV có thể lựa chọn hình thức xem video hoặc tổ chức trò chơi. 
 Với hình thức khởi động cho HS xem video, GV hướng dẫn HS kết nối mạng 
và mở ứng dụng youtube trên ti vi của lớp học. Thao tác này tuy đơn giản nhưng 
 20 

File đính kèm:

  • pdfskkn_phat_trien_nang_luc_so_cho_hoc_sinh_vung_nong_thon_thon.pdf