SKKN Tổ chức dạy học dự án dưới hình thức trực tuyến Chủ đề: Cân bằng của một vật có mặt chân đế - Vật lí 10, nhằm giúp HS phát huy năng lực tự học, tự sáng tạo trong thực tiễn và từng bước chuyển đổi số

Để đáp ứng và theo kịp xu hướng phát triển toàn cầu, nghành giáo dục đang từng bước thay đổi hình thức tổ chức dạy học tích cực nhằm phát huy các phẩm chất và năng lực học sinh. Trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 với chủ trương đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, giáo viên cần phải nắm vững kiến thức, kĩ năng môn học, phương pháp dạy học vừa có tính phân hóa, tích hợp, dạy học trải nghiệm và vận dụng từ thực tiễn. GV cần phải chuyển từ việc truyền thụ kiến thức sang việc tìm cách tổ chức hoạt động cho HS tự chiếm lĩnh tri thức. Trách nhiệm GV trang bị cho HS từ kĩ năng, trí tuệ, có thế giới quan khoa học đồng thời tạo hoạt động giao lưu trong đời sống, lớp học và tin tưởng vào khả năng thay đổi từ mỗi HS của GV.

Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay chúng ta đang từng bước chuyển đổi số trong mọi lĩnh vực nói chung và nghành giáo dục nói riêng. Trong năm 2020, 2021 chúng ta đang học tập và làm việc trong bối cảnh đại dịch Covid-19 nên gặp nhiều khó khăn, nhưng đó cũng là một bước khởi đầu thành công cho tất cả các nghành từng bước thực hiện việc chuyển đổi số. Đặc biệt là các em đang ngồi trên ghế nhà trường có cơ hội tiếp cận sớm hơn thông qua việc dạy học và các hoạt động trực tuyến với chủ trương “học sinh dừng đến trường chứ không dừng học”. Chúng ta nghe nói nhiều nhưng không có cơ hội cũng như động lực tiếp cận, trải nghiệm thì chắc chắn rằng rất khó thành hiện thực. Do đó, chúng ta cũng nên từng bước tạo cơ hội cho các em làm quen với việc tự tìm cho mình một phương pháp học tập, để các em tự tin hơn trong việc tự học cũng như trong việc sử dụng CNTT trong bối cảnh và xu thế hiện nay.

Hơn nữa, môn Vật lí luôn gắn liền thực hành, thực tiễn và đồng thời nó liên quan đến nhiều hoạt động, ứng dụng trong đời sống chúng ta, nhưng thực trạng hiện nay các em theo học vật lí để lựa chọn nghề nghiệp là rất ít do đó trong giờ vật lí các em tỏ ra không hứng thú và làm cho giờ học trở thành vô nghĩa. Vậy, việc thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tích cực làm sao để giúp các em vừa nắm vững kiến thức, vừa hiểu được ý nghĩa trong thực tiễn đồng thời giúp làm quen với CNTT và từng bước làm quen với việc chuyển đổi số để phát huy các năng lực từ bản thân học sinh. Và mỗi GV chúng ta cũng phần nào cố gắng tìm phương pháp dạy học để phát huy đặc thù, thế mạnh của bộ môn vật lí để tạo niềm đam mê cho các em.

Vậy, ở chủ đề “các dạng cân bằng của vật có mặt chân đế” vật lí 10 nói riêng và nhiều phần khác trong chương trình vật lí nói chung, tôi nhận thấy lượng kiến thức của chủ đề không nhiều nhưng lại cần hiểu để vận dụng vào thực tiễn không ít. Song, theo theo công văn 4040/BGD ĐT-GDTrH về việc hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS, THPT ứng phó với dịch Covid-19, năm học 2021-2022 Bộ giáo dục và đào tạo thực hiện hình thức tự học có hướng dẫn. Do đó, để HS tự tìm hiểu, vận dụng kiến thức và sáng tạo vào thực tiễn đồng thời giúp các em sẽ thấy được tầm quan trọng, ý nghĩa của bộ môn vật lí đối với đời sống quanh ta và tạo được những giờ học thú vị và ý nghĩa hơn, và phần nào đáp ứng được các vấn đề nêu trên, tôi mạnh dạn đưa ra phương pháp DHDA dưới hình thức dạy học trực tuyến. Từ các lí do trên tôi chọn đề tài: “Tổ chức dạy học dự án dưới hình thức trực tuyến chủ đề: Cân bằng của một vật có mặt chân đế - vật lí 10, nhằm giúp HS phát huy năng lực tự học, tự sáng tạo trong thực tiễn và từng bước chuyển đổi số”.

pdf 47 trang Giang Thanh 28/11/2025 3320
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Tổ chức dạy học dự án dưới hình thức trực tuyến Chủ đề: Cân bằng của một vật có mặt chân đế - Vật lí 10, nhằm giúp HS phát huy năng lực tự học, tự sáng tạo trong thực tiễn và từng bước chuyển đổi số", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Tổ chức dạy học dự án dưới hình thức trực tuyến Chủ đề: Cân bằng của một vật có mặt chân đế - Vật lí 10, nhằm giúp HS phát huy năng lực tự học, tự sáng tạo trong thực tiễn và từng bước chuyển đổi số

SKKN Tổ chức dạy học dự án dưới hình thức trực tuyến Chủ đề: Cân bằng của một vật có mặt chân đế - Vật lí 10, nhằm giúp HS phát huy năng lực tự học, tự sáng tạo trong thực tiễn và từng bước chuyển đổi số
 SỞ GD&ĐT NGHỆ AN 
 TRƯỜNG THPT ANH SƠN 3 
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
 ĐỀ TÀI: 
TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN DƯỚI HÌNH THỨC TRỰC 
TUYẾN CHỦ ĐỀ: CÂN BẮNG CỦA MỘT VẬT CÓ MẶT 
 CHÂN ĐẾ - VẬT LÍ 10, NHẰM GIÚP HỌC SINH PHÁT 
 HUY NĂNG LỰC TỰ HỌC, TỰ SÁNG TẠO TRONG 
 THỰC TIỄN VÀ TỪNG BƯỚC CHUYỂN ĐỔI SỐ 
 MÔN: VẬT LÝ 
 Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Lịch 
 Mai Thanh Bình 
 Tổ: Tự Nhiên 
 Năm thực hiện: Năm học 2021 - 2022 
 Số điện thoại: 0935893893 
 Anh sơn, tháng 4 năm 2022 
 1 
 MỤC LỤC 
 NỘI DUNG Trang 
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3 
PHẦN I. MỞ ĐẦU 4 
PHẦN II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI 7 
A. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 
 1. Dạy học trực tuyến 7 
 1.1. Dạy học trực tuyến là gì 7 
 1.2. Đặc điểm của phương pháp dạy học trực tuyến 7 
 1.3. Xu thế của dạy học trực tuyến 7 
 2. Dạy học dự án 7 
 2.1. Khái niệm 7 
 2.2. Đặc điểm của dạy học dự án 8 
 2.3. Mục tiêu dạy học trong dạy học theo dự án 8 
 2.4. Các giai đoạn của dạy học dự án 9 
 3. Cơ sở để DHDA chủ đề "Cân bằng của vật có mặt chân đế" 9 
 dưới hình thức trực tuyến. 
 3.1. Cơ sở lí luận dạy học DHDA 9 
 3.2. Cơ sở lí luận DH trực tuyến 10 
 4. Quy trình phương pháp DHDA 11 
 5. Thực trạng DHDA dưới hình thức trực tuyến môn vật lí tại 11 
 một số trường THPT miền núi, tỉnh Nghệ An 
 5.1. Phương pháp và đối tượng điều tra 11 
 5.2. Kết quả điều tra 11 
 B. XÂY DỰNG - TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN CHỦ ĐỀ “CÂN 13 
 BẰNG CỦA VẬT CÓ MẶT CHÂN ĐẾ”VẬT LÍ 10, DƯỚI HÌNH 
 THỨC TRỰC TUYẾN. 
 1. Lựa chọn chủ đề. 13 
 1 
 2. Mục tiêu dạy học chủ đề “Cân bằng của vật có mặt chân đế” 14 
 theo DHDA dưới hình thức trực tuyến. 
 3. Ý tưởng dự án. Tên dự án 15 
 4. Xác định mục tiêu, sản phẩm, phiếu đánh giá sản phẩm dự án. 16 
 5. Bộ câu hỏi định hướng cho HS tạo sản phẩm dự án 17 
 6. Xây dựng kế hoạch dạy học 17 
 7. Thiết kế tổ chức hoạt động dạy học 18 
 7.1 Triển khai dự án 18 
 7.2. Nghiệm thu dự án 22 
 8. Đánh giá kết quả dạy học 31 
 8.1. Đánh giá chung 31 
 8.2. Kết quả đối chứng chứng minh tính khả thi phương pháp 32 
 dạy học 
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 34 
PHỤ LỤC 36 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 
 2 
 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 
Viết tắt Viết đầy đủ 
HS Học sinh 
GV Giáo viên 
THPT Trung học phổ thông 
DHDA Dạy học dự án 
CNTT Công nghệ thông tin 
SGK Sách giáo khoa 
NLS Năng lực số 
PPDHDA Phương pháp dạy học dự án 
SP Sản phẩm 
 3 
 PHẦN I. MỞ ĐẦU 
1. Lí do chọn đề tài 
 Để đáp ứng và theo kịp xu hướng phát triển toàn cầu, nghành giáo dục đang 
từng bước thay đổi hình thức tổ chức dạy học tích cực nhằm phát huy các phẩm 
chất và năng lực học sinh. Trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 với 
chủ trương đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, giáo viên cần phải nắm vững kiến 
thức, kĩ năng môn học, phương pháp dạy học vừa có tính phân hóa, tích hợp, dạy 
học trải nghiệm và vận dụng từ thực tiễn. GV cần phải chuyển từ việc truyền thụ 
kiến thức sang việc tìm cách tổ chức hoạt động cho HS tự chiếm lĩnh tri thức. 
Trách nhiệm GV trang bị cho HS từ kĩ năng, trí tuệ, có thế giới quan khoa học 
đồng thời tạo hoạt động giao lưu trong đời sống, lớp học và tin tưởng vào khả năng 
thay đổi từ mỗi HS của GV. 
 Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay chúng ta đang từng bước chuyển đổi số 
trong mọi lĩnh vực nói chung và nghành giáo dục nói riêng. Trong năm 2020, 2021 
chúng ta đang học tập và làm việc trong bối cảnh đại dịch Covid-19 nên gặp nhiều 
khó khăn, nhưng đó cũng là một bước khởi đầu thành công cho tất cả các nghành 
từng bước thực hiện việc chuyển đổi số. Đặc biệt là các em đang ngồi trên ghế nhà 
trường có cơ hội tiếp cận sớm hơn thông qua việc dạy học và các hoạt động trực 
tuyến với chủ trương “học sinh dừng đến trường chứ không dừng học”. Chúng ta 
nghe nói nhiều nhưng không có cơ hội cũng như động lực tiếp cận, trải nghiệm thì 
chắc chắn rằng rất khó thành hiện thực. Do đó, chúng ta cũng nên từng bước tạo cơ 
hội cho các em làm quen với việc tự tìm cho mình một phương pháp học tập, để 
các em tự tin hơn trong việc tự học cũng như trong việc sử dụng CNTT trong bối 
cảnh và xu thế hiện nay. 
 Hơn nữa, môn Vật lí luôn gắn liền thực hành, thực tiễn và đồng thời nó liên 
quan đến nhiều hoạt động, ứng dụng trong đời sống chúng ta, nhưng thực trạng 
hiện nay các em theo học vật lí để lựa chọn nghề nghiệp là rất ít do đó trong giờ 
vật lí các em tỏ ra không hứng thú và làm cho giờ học trở thành vô nghĩa. 
 Vậy, việc thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tích cực làm sao để giúp 
các em vừa nắm vững kiến thức, vừa hiểu được ý nghĩa trong thực tiễn đồng thời 
giúp làm quen với CNTT và từng bước làm quen với việc chuyển đổi số để phát 
huy các năng lực từ bản thân học sinh. Và mỗi GV chúng ta cũng phần nào cố 
gắng tìm phương pháp dạy học để phát huy đặc thù, thế mạnh của bộ môn vật lí để 
tạo niềm đam mê cho các em. 
 Vậy, ở chủ đề “các dạng cân bằng của vật có mặt chân đế” vật lí 10 nói riêng 
và nhiều phần khác trong chương trình vật lí nói chung, tôi nhận thấy lượng kiến 
thức của chủ đề không nhiều nhưng lại cần hiểu để vận dụng vào thực tiễn không 
ít. Song, theo theo công văn 4040/BGD ĐT-GDTrH về việc hướng dẫn thực hiện 
chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS, THPT ứng phó với dịch Covid-19, 
năm học 2021-2022 Bộ giáo dục và đào tạo thực hiện hình thức tự học có hướng 
 4 
 dẫn. Do đó, để HS tự tìm hiểu, vận dụng kiến thức và sáng tạo vào thực tiễn đồng 
thời giúp các em sẽ thấy được tầm quan trọng, ý nghĩa của bộ môn vật lí đối với 
đời sống quanh ta và tạo được những giờ học thú vị và ý nghĩa hơn, và phần nào 
đáp ứng được các vấn đề nêu trên, tôi mạnh dạn đưa ra phương pháp DHDA dưới 
hình thức dạy học trực tuyến. 
 Từ các lí do trên tôi chọn đề tài: “Tổ chức dạy học dự án dưới hình thức 
trực tuyến chủ đề: Cân bằng của một vật có mặt chân đế - vật lí 10, nhằm 
giúp HS phát huy năng lực tự học, tự sáng tạo trong thực tiễn và từng bước 
chuyển đổi số”. 
2. Mục đích nghiên cứu. 
 Xây dựng giáo án và tổ chức dạy học dự án dưới hình thức trực tuyến chủ đề 
“Cân bằng của vật có mặt chân đế”, góp phần phát triển năng lực tự học, tự sáng 
tạo trong thực tiễn cho học sinh, đồng thời tạo cho các em làm quen với việc ứng 
dụng CNTT phục vụ cho dạy, học và làm việc trong bối cảnh dịch bệnh, và từng 
bước tiếp cận chuyển đổi số để đáp ứng với xu thế học tập và làm việc trên toàn 
cầu cho GV và HS. 
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 
 * Đối tượng nghiên cứu. 
 Lí luận về dạy học trực tuyến. 
 Lý luận về dạy học dự án. 
 Quá trình dạy học Vật lí. 
 * Phạm vi nghiên cứu. 
 Chủ đề "Cân bằng của vật có mặt chân đế ", Vật lí 10. 
4. Nhiệm vụ nghiên cứu. 
 Hệ thống hóa cơ sở lí luận phương pháp DHDA. 
 Đặc điểm của dạy - học trực tuyến. 
 Phân tích mục tiêu giáo dục trong dạy học chủ đề "cân bằng của vật có mặt 
chân đế", Vật lí 10. 
 Xây dựng kế hoạch, hình thức tổ chức dạy học chủ đề "cân bằng của vật có mặt 
chân đế", Vật lí 10 bằng DHDA dưới hình thức trực tuyến. 
 Thực nghiệm sư phạm, chụp hình, quay video một số hoạt động giờ thực 
nghiệm. 
5. Phương pháp nghiên cứu. 
 * Phương pháp nghiên cứu lí luận: 
 Nghiên cứu các tài liệu lí luận. 
 5 
 Nghiên cứu chương trình SGK, sách giáo viên, sách tham khảo và một số tài 
liệu, trang web có liên quan đến phần các dạng “cân bằng của vật có mặt chân đế”. 
 * Phương pháp điều tra: 
 Dự giờ, rút kinh nghiệm việc dạy học chủ đề các dạng cân bằng của vật có 
mặt chân đế". 
 Điều tra GV, HS về thực trạng dạy học chủ đề này ở trường phổ thông: Nhận 
thức về phương pháp dạy học, giải quyết vấn đề tồn tại, kĩ năng vận dụng phương pháp 
DHDA dưới hình thức trực tuyến. 
 Thực nghiệm sư phạm. 
6. Kết quả nghiên cứu. 
 Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động dạy học việc học ở nhà, ở thực tiễn 
thông qua DHDA. 
 Xây dựng và tổ chức dạy học chủ đề bằng DHDA dưới hình thức trực tuyến. 
 Đặc biệt nâng cao được chất lượng dạy học, tạo hứng thú học tập, bồi dưỡng 
năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề thực tiễn và tạo cơ hội phát huy tính sáng tạo 
cho HS trong học tập, góp phần đổi mới giáo dục phổ thông theo định hướng phát 
triển năng lực người học. Đồng thời giúp GV và HS phát triển thêm năng lực vận 
dụng CNTT để đáp ứng với bối cảnh chống dịch hiện nay và xu thế thời đại 
chuyển đổi số. 
 6 
 PHẦN II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI 
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 
1. Dạy học trực tuyến. 
1.1. Khái niệm dạy học trực tuyến. 
 Dạy học trực tuyến là hình thức dạy - học ở trên Internet. Sử dụng phần mềm 
nền tảng học trực tuyến, ứng dụng âm thanh, hình ảnh và các thiết bị thông minh 
để thực hiện. Đây là một hình thức học tập từ xa nhằm giúp người học tự lựa chọn 
khóa học phù hợp với khả năng và công việc của mình. Ngoài ra, còn dùng các 
phần mềm khác như Zoom, TranS, Skype, Microsoft Teams để tạo một lớp học 
nhằm tương tác với nhau qua màn hình nhỏ. 
1.2. Đặc điểm của phương pháp dạy học trực tuyến. 
 Ưu điểm: 
 Giúp người dạy phải trau dồi năng lực, tìm tòi các các hình thức giảng dạy 
mới nhằm thu hút người học. Từ đó, chất lượng giảng dạy sẽ nâng cao. 
 Giúp người học cũng phải tìm tòi học hỏi các ứng dụng qua CNTT để đáp 
ứng với yêu cầu của GV. Từ đó giúp người học tiến bộ trong việc ứng dụng CNTT 
và cũng như rèn luyện tính tự học. 
 Giúp người dạy và người học chủ động về thời gian cũng như không gian dạy 
và học chứ không cần phải đến trường. 
 Nhược điểm: 
 Hệ thống kết nối mạng có thể gây gián đoạn làm ảnh hưởng tới buổi học. 
 Quá trình quản lí người học khó hơn so với trực tiếp. 
 Sự tương tác của người học với người dạy còn hạn chế vì không đủ thiết bị để 
trình bày những vấn đề cần phải viết đặc biệt là HS - GV nên sự hứng thú học tập 
cũng giảm. 
 Do đó, muốn học tập trực tuyến hiệu quả phải thỏa mãn: Thiết bị phục vụ học 
tập đáp ứng đầy đủ, ý thức HS phải tự giác cao. 
1.3. Xu thế dạy học trực tuyến đang được quan tâm vì: 
 Tăng tính chủ động về thời gian, không gian cho người học. 
 Đa dạng các hình thức học tập. 
 Tăng tính kết nối rộng bạn bè trên toàn cầu để học hỏi. 
2. Dạy học dự án. 
2.1. Khái niệm. 
 DHDA là một mô hình dạy học lấy HS làm trung tâm. Kiểu dạy học này phát 
triển kiến thức và kỹ năng của học sinh thông qua quá trình học sinh giải quyết một 
bài tập tình huống gắn với thực tiễn được gọi là dự án. Dự án đặt HS vào vai trò 
tích cực là người giải quyết vấn đề, người ra quyết định, điều tra viên hay người 
viết báo cáo và cuối cùng phải tạo ra được những sản phẩm thực tế. Thường thì HS 
 7 
 sẽ làm việc theo nhóm và hợp tác với giáo viên hay các chuyên gia, người hướng 
dẫn bên ngoài và cộng đồng để trả lời các câu hỏi và hiểu sâu hơn nội dung, ý 
nghĩa của bài học. Học theo dự án đòi hỏi HS phải tự nghiên cứu và thể hiện kết 
quả học tập của mình thông qua sản phẩm lẫn phương thức thực hiện. 
2.2. Đặc điểm của dạy học dự án. 
 Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống thực 
tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống. Chứa đựng những 
vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học. 
 Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập 
trong nhà trường với thực tiễn trong đời sống xã hội. 
 Định hướng hứng thú: Chủ đề và nội dung của dự án tạo dựng phương pháp 
phù hợp thu hút được hứng thú của HS, thúc đẩy mong muốn học tập của HS, tăng 
cường năng lực hoàn thành những công việc quan trọng và mong muốn được đánh 
giá. 
 Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực, 
nhiều nội dung hoặc nhiều môn học khác nhau. DHDA yêu cầu HS sử dụng thông 
tin nhiều môn học khác nhau để giải quyết các nhiệm vụ học tập. 
 Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa 
nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực 
hành. Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn 
luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học. 
 Tính tự lực cao của người học: Trong dạy học dự án, HS tham gia tích cực và 
tự lực vào tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học: Đề xuất vấn đề, lập kế hoạch, 
giải quyết vấn đề, báo cáo kết quả dự án. Với phương pháp này HS thực sự chủ 
động chiếm lĩnh kiến thức. 
 Cộng tác trong làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo 
nhóm, việc học mang tính xã hội. DHDA thúc đẩy sự cộng tác chặt chẽ liên tục 
giữa GV với HS và giữa HS với HS. Các nhóm HS phải có sự cộng tác trong làm 
việc mới đảm bảo được thành công, kịp tiến độ cho dự án. 
 Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được 
tạo ra. Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà 
trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt 
động thực tiễn, thực hành. Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới 
thiệu. 
2.3. Mục tiêu dạy học trong dạy học theo dự án. 
 Mục tiêu của dạy học dự án mang tính định hướng rõ ràng. 
 DHDA tạo sự hứng thú học tập cho HS đồng thời hướng tới phát triển kĩ năng, 
tư duy bậc cao, nó vừa đảm bảo việc tự chiếm lĩnh tri thức mà còn khả năng phát 
 8 
 huy các năng lực sẵn có. Nếu các em có sự đam mê có thể đây lại là khởi đầu cho sự 
phát huy tố chất sẵn có mà lâu nay chưa có cơ hội. Các dự án hoàn toàn phải có định 
hướng thực tiễn vì trong quá trình thực hiện dự án HS phải sử dụng lí thuyết đã học 
hay tự tìm tòi tham khảo các tài liệu liên quan để xử lý các tình huống liên quan 
trong đời sống. 
 Ngoài ra, DHDA còn hướng tới phát triển kĩ năng sống cho HS như: Kĩ năng 
trong công việc, kĩ năng thu thập và xử lý thông tin, kĩ năng trình bày... 
2.4. Các giai đoạn của dạy học dự án: 
 Dạy học theo dự án bao gồm các giai đoạn: 
 Giai đoạn 1: Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án. 
 Giai đoạn 2: Xác định đề cương, kế hoạch thực hiện. 
 Giai đoạn 3: Thực hiện dự án, chú ý đến sản phẩm. 
 Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm. 
 Giai đoạn 5: Đánh giá dự án. 
3. Cơ sở để DHDA chủ đề "Cân bằng của vật có mặt chân đế" dưới hình thức 
trực tuyến. 
 3.1. Cơ sở lí luận dạy học DHDA. 
 Theo lí thuyết về hoạt động của tác giả A.N.Leon Chiep thì việc học tập của 
HS là hoạt động của bản thân thông qua học tập để chiếm lĩnh kiến thức, hình 
thành và phát triển năng lực trí tuệ cũng như thái độ. 
 Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Đức Thâm hoạt động của HS trong học 
tập là giải quyết vấn đề, là quá trình tự lực phối hợp với tập thể và sự hướng dẫn 
của GV để giải quyết các vấn đề đặt ra và kết quả là các em chiếm lĩnh được tri 
thức và phát triển được năng lực. 
 Theo chủ quan cá nhân tôi nhận thấy: Để rút kinh nghiệm cho bản thân về 
công việc cũng như trong học tập thì phải chính mình thực hành trải nghiệm, bởi 
chúng ta đều biết “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một 
làm”. Nhưng điều đó không phải ai cũng có tinh thần tự giác tìm tòi thực hành trải 
nghiệm, còn nếu giao nhiệm vụ thì ắt hẳn đều phải thực hiện và có những người 
còn làm tốt ngoài sự mong đợi. 
 Do đó, mô hình DHDA phù hợp đặc thù của bộ môn vật lí, vì môn học gắn 
liền thực tiễn, có ứng dụng trong đời sống nên trong quá trình học cần phải tạo cho 
HS kĩ năng tự học, tìm tòi và giải quyết vấn đề. 
 Vậy, chủ đề “Cân bằng của vật có mặt chân đế” nó vận dụng trong đời 
sống thực tiễn rất nhiều: Từ trong xây dựng, thiết kế các vật dụng, nghệ thuật xiếc 
cũng như trong các trò chơi muốn thực hiện được đều cần hiểu bản chất kiến 
thức chủ đề. 
 9 
 3.2. Cơ sở lí luận DH trực tuyến 
 3.2.1. Khung năng lực số cho giáo viên. 
 Việc sử dụng các công nghệ mới khuyến khích việc chấp nhận vai trò mới của 
giáo viên bao gồm các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới và các tiếp cận mới cho 
bồi dưỡng giáo viên. Việc ứng dụng thành công CNTT vào môi trường học tập sẽ 
phụ thuộc vào khả năng của giáo viên để tổ chức dạy học theo các cách thức mới, sử 
dụng công nghệ thích hợp với PPDH, phát triển các lớp học tương tác xã hội, 
khuyến khích người học giúp đỡ lẫn nhau, học tập cộng tác và làm việc nhóm. Đối 
với nhiều người, điều này sẽ yêu cầu một tập hợp các kỹ năng khác những kỹ năng 
mà họ đang có. Các kỹ năng dạy học của tương lai sẽ bao gồm khả năng phát triển 
việc đổi mới phương pháp sử dụng công nghệ để cải thiện môi trường học tập, trợ 
giúp việc chiếm lĩnh tri thức, đào sâu tri thức và tạo lập tri thức. 
 Một số mức độ năng lực số của giáo viên: 
 - Mức chiếm lĩnh tri thức: 
 Ở mức chiếm lĩnh tri thức, mục tiêu là để thúc đẩy cho giáo viên hỗ trợ cho 
HS có các năng lực khác nhau có thể sử dụng công nghệ số trở thành những người 
học hiệu quả và lao động chất lượng trong xã hội số. GV nên tìm hiểu, nhận thức 
được các mục tiêu phát triển của quốc gia, đặc biệt là các mục tiêu liên quan đến 
giáo dục. 
 - Mức đào sâu tri thức: 
 Mục tiêu là để nâng cao khả năng của giáo viên để hỗ trợ học sinh. 
 Phương pháp sư phạm có liên quan tới mức này bao gồm việc giải quyết vấn 
 đề có tính cộng tác và học tập dựa trên dự án, ở đó HS khai thác chủ đề một cách 
 sâu sắc và vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề phức tạp trong cuộc 
 sống. 
 3.2.2. Khung năng lực số cho HS: 
 Sử dụng các thiết bị kỹ thuật số, kĩ năng về thông tin và dữ liệu, giao tiếp và 
hợp tác, tạo được sản phẩm số. 
 3.2.3. Hướng dẫn tổ chức dạy học trực tuyến. 
 Việc dạy học trực tuyến thường tổ chức những chủ đề có lượng kiến thức đơn 
giản, ngắn gọn, dễ hiểu đồng thời thời lượng tiết học ít hơn so với trực tiếp sẽ đạt 
hiệu quả cao. 
 Vậy, trong quá trình dạy học tôi thấy lượng kiến thức chủ đề “Cân bằng của 
vật có mặt chân đế” đơn giản, dễ hiểu nên tổ chức dạy trực tuyến phù hợp để đạt 
mục tiêu về các khung NLS cho GV và HS. 
Từ các cơ sở trên cá nhân tôi đã lựa chọn đề tài này để thực nghiệm. 
 10 
 4. Quy trình phương pháp DHDA. 
 Từ nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học dự án, dạy học trực tuyến chương 
trình dạy học môn vật lí, tôi sẽ xây dựng quy trình DHDA theo thứ tự như sau: 
 Bước 1: Lựa chọn chủ đề. 
 Bước 2: Xác định mục tiêu dạy học chủ đề. 
 Bước 3: Nêu ý tưởng dự án, đặt tên dự án. 
 Bước 4: Xác định mục tiêu dự án cần đạt. 
 Bước 5: Xây dựng bộ câu hỏi định hướng cho các dự án. 
 Bước 6: Xây dựng kế hoạch dạy học. 
 Bước 7: Thiết kế và tổ chức dạy học theo kế hoạch. 
 Bước 8: Đánh giá kết quả dạy học. 
5. Thực trạng DHDA dưới hình thức trực tuyến môn vật lí tại một số trường 
THPT miền núi, tỉnh Nghệ An 
 5.1. Phương pháp và đối tượng điều tra: 
 * Phiếu điều tra và một số thông tin khác (Phụ lục 1). 
 * Đối tượng điều tra: 
 GV dạy vật lí một số trường THPT miền núi, tỉnh Nghệ An. 
 Học sinh: 80 HS ở trường THPT. 
 5.2. Kết quả điều tra: 
 Qua kết quả điều tra bằng phiếu và nhiều nguồn thông tin khác từ GV với HS 
(Phiếu và kết quả điều tra ở phụ lục 1) tôi nhận thấy: 
 Đối với GV: 
 Tất cả GV đều thấy thực trạng mấy năm gần đây HS hứng thú học vật lí giảm 
do nhiều yếu tố, trong đó có PPDH và với vai trò GV cần có sự thay đổi PPDH phù 
hợp tạo sự hứng thú cho HS. 
 PPDHDA đã được áp dụng nhưng dưới hình thức dạy học trực tuyến thì hầu 
như chưa được áp dụng, nhiều GV không tự tin để thực hiện vì cảm thấy khó đối 
với HS đại trà khi các em mới làm quen với việc học trực tuyến. Đồng thời nó 
cũng hơi vất vả cho GV đối với HS đại trà. 
 Đối với HS: 
 Theo kết quả điều tra trước và sau khi thực hiện dự án cho thấy: 
 Đa số HS hứng thú với việc học tập theo PPDH mới này. 
 Trong khi giao nhiệm vụ các em cảm thấy hào hứng, tích cực công việc, thi 
đua trong học tập. 
 11 
 Đặc biệt hơn, phần liên hệ thực tiễn, ứng dụng các em rất muốn chinh phục 
các sản phẩm chính bản thân tự nghiên cứu. 
 Vậy, để tạo được liên kết giữa học tập đạt được mục tiêu yêu thích vật lí, trở 
thành các nhà nghiên cứu, kĩ sư, công nhân hay có thể giúp các em làm việc kinh 
doanh trực tuyến... thì cần phải cho các em tiếp cận dần cách học mới, góp phần 
phát triển năng lực toàn diện cho HS tạo sự đam mê từ bây giờ. 
 12 
 B. XÂY DỰNG - TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN 
 CHỦ ĐỀ “CÂN BẰNG CỦA VẬT CÓ MẶT CHÂN ĐẾ” 
 VẬT LÍ 10, DƯỚI HÌNH THỨC TRỰC TUYẾN. 
 1. Lựa chọn chủ đề. 
 Mọi thứ xung quanh chúng ta muốn tồn tại bền lâu thì cần phải có một trạng 
thái cân bằng. Chính vì thế, trong mỗi chúng ta ai cũng cần phải biết làm thế nào 
để tạo “cân bằng cuộc sống” thì tất cả mọi việc sẽ chất lượng hơn. Còn các sự vật, 
hiện tượng xung quanh chúng ta thì sao? Muốn nó bền vững hơn thì cần tạo cho nó 
một trạng thái cân bằng. Vậy, để tăng mức vững vàng của các vật thì cần những 
yếu tố nào? Đó là điều mà mỗi chúng ta ai cũng cần phải biết để phục vụ cuộc sống 
của mình. Và chính ở chủ đề “Cân bằng của vật có mặt chân đế” vật lí 10, đang đề 
cập tới vấn đề này. 
 Để thiết kế tất cả các vật dụng sử dụng trong gia đình: Tủ, bàn ghế hay xây 
dựng nhà cửa, phù hợp, đứng vững thì ta phải hiểu bản chất vật lí. 
 Hay, như trò chơi kéo co, đẩy gậy làm thế nào để tạo được thế đứng vững, 
hay trong nghệ thuật: Biểu diễn xiếc làm thế nào để giữ được thăng bằng trên dây 
hay như trượt batanh cũng vậy. 
 Hay, trong việc tham gia giao thông hiểu được tại sao đi trên đường phố lại 
không được chở cồng kềnh dù trọng lượng nhẹ. 
 Hay, giải thích tại sao con lật đật không bị lật đổ 
 Các công trình xây dựng nổi tiếng như tháp nghiêng Pisa ở nước Ý, tháp 
Capital Gate ở Ả rập tại sao nghiêng mà lại đứng vững. 
 Vậy, làm thế nào để các em hiểu và vận dụng một cách hiệu quả nhất, điều 
đầu tiên tôi nghĩ đó là: Phải đưa đến cho các em một phương pháp học tập phù hợp 
tạo sự hứng thú và phát huy tính tự hoc, tự tìm tòi và sáng tạo, các em sẽ hiểu hơn 
về bản chất kiến thức đồng thời tạo được niềm tin đối với bộ môn Vật lí là môn 
học gắn liền thực tiễn. Song, trong chương trình giáo dục của Bộ GD-ĐT theo 
công văn 4040/BGDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn chương trình GDPT cấp 
THCS, THPT ứng phó với dịch Covid-19 năm học 2021-2022 nội dung chủ đề này 
tự học có hướng dẫn toàn bài. Chính vì tất cả lí do trên, tôi mạnh dạn chọn phương 
pháp dạy học chủ đề theo DHDA dưới hình thức trực tuyến để phần nào đáp ứng 
các vấn đề nêu trên đồng thời phần nào giúp các em biết cách ứng dụng với việc 
ứng dụng CNTT nhiều hơn. 
 13 
 2. Mục tiêu dạy học chủ đề “Cân bằng của vật có mặt chân đế” theo DHDA 
dưới hình thức trực tuyến. 
 Bảng 1. Mục tiêu dạy học 
 Mục tiêu dạy học 
 Nội dung dạy Mục tiêu giáo dục 
 học 
 I. Phân biệt được Giúp các em: 
 các dạng cân - Tự chiếm lĩnh kiến thức và vận dụng vào thực tiễn hiệu 
 bằng: quả. 
 - Cân bằng bền. - Sáng tạo trong cách trình bày ý tưởng. 
 - Cân bằng không - Tìm hiểu phương pháp dạy - học và làm việc trực tuyến, để 
 bền. phù hợp với bối cảnh Covid hiện tại và từng bước chuyển 
 - Cân bằng phiếm đổi số. Đồng thời tăng tính tương tác giữa GV và HS trong 
 định. dạy học trực tuyến. 
 II. Tìm hiểu các - Đáp ứng yêu cầu theo CV 4040 của Bộ GD về: Tự học có 
 nội dung về cân hướng dẫn đối với chủ đề. 
 bằng của vật có - Hình thành và làm quen khung NLS cho HS và cả GV: 
 mặt chân đế: 
 Sử dụng các thiết bị kỹ thuật số, các phần mềm, kĩ năng về 
 - Điều kiện cân thông tin và dữ liệu, giao tiếp và hợp tác, tạo được sản phẩm 
 bằng. số. 
 - Yếu tố ảnh 1. Kiến thức 
 hưởng tới mức 
 vững vàng của - Nhận dạng, phân biêt được các dạng cân bằng và hiếu được 
 vật. yếu tố ảnh hưởng đến sự cân bằng đó. 
 III. Vận dụng - Nắm được: Điều kiện cân bằng của vật có mặt chân đế và 
 kiến thức vào các yếu tố ảnh hưởng tới mức vững vàng của vật. 
 trong thực tiễn: - Biết vận dụng kiến thức vào trong cuộc sống thực tiễn và 
 IV. Cách thiết kế giải thích được một số hiện tượng cũng như tạo ra một số sản 
 nội dung bài học. phẩm liên quan. 
 V. Ứng dụng 2. Năng lực: 
 CNTT trong việc - Tự chủ, tự học: Nghiên cứu các tài liệu để đưa ra kiến thức 
 dạy - học cũng trọng tâm. Tìm hiểu vận dụng CNTT, cách thiết kế nội dung 
 như làm việc trực bài học 
 tuyến. - Hợp tác: Phối hợp nhóm để thiết kế bài giảng qua phần 
 mềm ứng dụng tin học, trao đổi thảo luận. 
 - Phát hiện ra vấn đề cần giải quyết trong nội dung bài học. 
 14 
 Biết vận dụng vào thực tiễn và giải thích một số hiện tượng 
 thực tiễn liên quan kiến thức. 
 - Ứng dụng CNTT vào quá trình soạn, báo cáo sản phẩm 
 và tương tác trong việc học trực tuyến. 
 3. Phẩm chất: 
 - Chăm chỉ: Rèn được tính kiên trì, tự tìm tòi. 
 - Trung thực: Không gian dối trong học tập, tự bản thân làm 
 việc rồi kết hợp với nhóm. 
 - Có trách nhiệm với bản thân, với tập thể trong công việc và 
 có tinh thần hỗ trợ nhau trong học tập. 
 Nhận xét: Nếu dạy học chủ đề “Cân bằng của vật có mặt chân đế” bằng 
DHDA dưới hình thức trực tuyến không những đạt được các mục tiêu theo chuẩn 
mà còn đạt được các mục tiêu nâng cao hướng tới phát triển NLS và các năng lực 
khác cho HS. Cụ thể là: 
 - Năng lực tự học. 
 - Năng lực giải quyết vấn đề. 
 - Năng lực hợp tác. 
 - Năng lực sử dụng ngôn ngữ. 
 - Năng lực ứng dụng CNTT. 
 - Năng lực đánh giá. 
 - Vận dụng và sáng tạo kiến thức vào thực tiễn. 
3. Ý tưởng dự án. Tên dự án. 
 3.1. Ý tưởng dự án. 
 Để phát huy năng lực và phẩm chất ở HS phù hợp với xu thế hiện nay đồng 
thời đáp ứng được mục tiêu giáo dục về đổi mới PPDH tích cực. Bản thân tôi luôn 
mong muốn tìm được PPDH phù hợp với mọi đối tượng để các em vừa có hứng 
thú trong học tập cũng như tự khám phá được kiến thức trong thực tiễn. Hơn nữa, 
muốn phát huy tối đa tính sáng tạo từ mỗi HS với một tâm thế tốt nhất tôi sẽ tổ 
chức các cuộc thi trong học tập nhằm: Tạo động lực thi đua trong mỗi hoạt động; 
từ việc chiếm lĩnh tri thức, khả năng thiết kế sản phẩm, thuyết trình, ứng dụng 
CNTT cũng như vận dụng và sáng tạo thực tiễn. 
 Mặt khác, do nội dung phần này kiến thức không nhiều và cũng không khó 
song nó lại liên hệ thực tiễn nhiều, nhưng theo CV4040 của Bộ GDĐT lại kế hoạch 
tự học có hướng dẫn. Để đáp ứng các lí do trên tôi sẽ đưa ra nội dung dự án: Tổ 
chức cuộc thi “thiết kế và báo cáo nội dung chủ đề Cân bằng của vật có mặt chân 
đế” trên các phần mềm tin học. Các bước hướng dẫn, báo cáo, đánh giá sản phẩm 
 15 
 đều tổ chức dưới hình thức trực tuyến ngoài giờ học chính khóa. 
 Và tôi sẽ đưa ra dự án sau: 
 3.2. Tên dự án: Cuộc thi báo cáo viên với chủ đề: 
 “Cân bằng của vật có mặt chân đế với cuộc sống quanh ta”. 
 (Mỗi nhóm tự tham khảo để thiết kế bản báo cáo riêng của nhóm mình) 
4. Xác định mục tiêu, sản phẩm, phiếu đánh giá sản phẩm dự án. 
 4.1. Mục tiêu và sản phẩm dự án. 
 Tên dự Mục tiêu 
 Sản phẩm 
 án Kiến thức Năng lực Phẩm chất 
 Cuộc thi 1. Nắm được kiến * Năng lực tự học, Giúp HS - Bản trình 
 báo cáo thức về chủ đề. tìm tòi kiến thức. có tinh thần chiếu 
 viên với - Phân biệt được * Năng lực phát hiện tự học, hợp powerpoint 
 chủ đề: các dạng cân bằng. và giải quyết vấn đề tác, hỗ trợ hoặc các 
 nhau và phần mềm 
 “Cân - Điều kiện cân * Rèn luyện kĩ năng 
 bằng của trách nhiệm điện tử 
 bằng của vật có tổ chức hoạt động với công khác tạo 
 vật có mặt chân đế. nhóm. 
 mặt chân việc. Khích video về 
 đế với - Yếu tố ảnh * Ứng dụng CNTT: lệ tinh thần kiến thức 
 cuộc hưởng tới mức - Thiết kế nội dung học tập. và thực 
 tiễn chủ 
 sống vững vàng của vật. bài học trực tuyến. 
 đề. 
 quanh - Vận dụng kiến - Các thao tác tương 
 ta”. thức vào trong tác trong dạy - học - Trình 
 chiếu và 
 thực tiễn. cũng như làm việc 
 thuyết 
 - Nắm được qui trực tuyến. 
 trình thiết kế bài trình, phân 
 * Kĩ năng trình bày, tích chủ đề 
 giảng qua phần 
 báo cáo tạo sự tự tin qua ứng 
 mềm dạy học trực trước tập thể. 
 tuyến. dụng phần 
 * Phát huy tính sáng mềm 
 tạo thực tiễn, trong CNTT. 
 thiết kế bài học 
 4.2. Thiết kế phiếu đánh giá sản phẩm dự án (phụ lục 2) 
 (gồm 5 phiếu: Đánh giá các thành viên trong nhóm, các nhóm đánh giá lẫn 
nhau, GV đánh giá các nhóm, tổng hợp kết quả đánh giá từ các của nhóm và GV, 
tổng hợp kết quả cho từng HS) 
 16 
 5. Bộ câu hỏi định hướng cho HS tạo sản phẩm dự án. 
 Câu 1: Có những dạng cân bằng nào em biết. Phân biệt hiện tượng khác nhau 
giữa các dạng cân bằng? Hãy nêu các ví dụ? 
 Câu 2: Nguyên nhân nào dẫn tới các trạng thái cân bằng đó? 
 Câu 3: Thế nào là mặt chân đế của vật rắn? Mặt chân đế có tác dụng gì đối 
với vật? 
 Câu 4: Những yếu tố nào ảnh hưởng tới mức vững vàng của vật? 
 Câu 5: Điều kiện nào để vật có mặt chân đế được cân bằng? 
 Câu 6: Hãy đưa ra những ứng dụng trong đời sống đã vận dụng kiến thức chủ 
đề mà em biết. 
 Câu 7: Nêu vai trò của chủ đề đối với đời sống thực tiễn quanh ta. 
 Câu 8: Hãy tìm hiểu cách thiết kế bài giảng powerpoint hay phần mềm điện tử 
mà em cảm thấy khoa học, hứng thú có sức cuốn hút mọi người học tập. 
 Câu 9: Tìm hiểu về cách trình chiếu màn hình để báo cáo dự án. 
6. Xây dựng kế hoạch dạy học. 
 Căn cứ vào kế hoạch giáo dục theo Cv4040 của Bộ GDĐT, tôi lập kế hoạch 
thực hiện như sau. 
 Thời Hình thức 
 Nội dung Người thực hiện 
 TT gian thực hiện 
 * GV triển khai dự án và học sinh 
 tiếp nhận nhiệm vụ: 
 - GV giới thiệu chủ đề. Trực tuyến. 
 - Giáo viên triển khai dự án. Buổi tối 
 Triển * GV thông qua các mục tiêu cần đạt 
 1 30 
 khai dự của dự án. 
 1 phút 
 án * Thông báo kế hoạch thực hiện DA. 
 * Phát bộ câu hỏi định hướng cho 
 mỗi nhóm. 
 * Thông báo các tài liệu tham khảo. 
 * HS theo dõi và thực hiện nhiệm vụ 
 Thực * GV theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc HS nghiên cứu 
 2 2 tuần học sinh thực hiên dự án qua các giờ thảo luận trao 
 hiện dự 
 2 vật lí, trực tiếp, trực tuyến. đổi trong 
 án 
 nhóm, ở các 
 17 
 tiết vật lí, với 
 GV ở trường, 
 điện thoại và 
 trên Email. 
 - GV thông báo các qui trình và kế 
 hoạch báo cáo sản phẩm. 
 - Các phiếu đánh giá cho điểm các 
 nhóm, các cá nhân và giáo viên. 
 - Đại diện các nhóm báo cáo sản 
 phẩm dự án (7 Phút). Các nhóm còn 
 3
 Nghiệm 1 tiết lại theo dõi và chuẩn bị câu hỏi để Trực tuyến. 
 3 thu dự án chất vấn dự án. 
 - Đánh giá sản phẩm từng nhóm và 
 GV hợp thức hóa kiến thức. 
 - Kiểm tra, đánh giá khả năng tiếp 
 thu kiến thức của HS. 
 - Tổng kết dự án. 
7. Thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học. 
7.1. Triển khai dự án. 
 Thực hiện: Tối thứ 5 ngày 30 tháng 12 năm 2021. 
 Lớp thực hiện: 10C1, 10C6. Phòng học trực tuyến. 
 I. Mục tiêu: 
 1. Kiến thức. 
 Học sinh tiếp nhận vấn đề, nắm được các nhiệm vụ nhóm phải thực hiện. 
 Đạt được các mục tiêu sản phẩm dự án. 
 2. Năng lực: 
 - Năng lực tự chủ và tực học: HS tự lập kế hoạch nhóm để triển khai thực hiện 
dự án: Phân công công việc cho mỗi thành viên của nhóm, xác định nhiệm vụ cá 
nhân, kế hoạch thực hiện dự án. 
 - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: HS hình dung phương án thiết kế 
sản phẩm dự án và các nhiệm vụ được giao. Liên hệ kiến thức trong cuộc sống. 
 - Năng lực giao tiếp và hợp tác: Thảo luận để thống nhất phương án thực hiện 
dự án. 
 - Phát triển các năng lực chuyên biệt: Tìm hiểu và liên hệ thực tế, ứng dụng 
CNTT, thẩm mĩ và ngôn ngữ. 
 18 
 3. Phẩm chất: 
 - HS hứng thú, tích cực và sẵn sàng bắt tay vào thực hiện dự án. 
 - Trách nhiệm với bản thân học tập để hiểu biết, với tập thể để hoàn thành SP. 
 - Mình phải làm việc chứ không được lấy SP của người khác. 
 - Phải biết hỗ trợ giúp đỡ nhau trong quá trình làm SP. 
 II. Thiết bị dạy học và học liệu. 
 Thiết bị dạy – học trực tuyến: Máy tính, bảng điện tử, camera, micro 
 SGK Vật lí 10. 
 Phần mềm dạy học trực tuyến tạo phòng học. Các phần mềm cơ bản để soạn 
bài giảng, ví dụ: powerpoint, 
 III. Thiết kế tổ chức hoạt động dạy học 
(Tiết thực nghiệm triển khai dự án được quay video cho 1 lớp 10C6 (đã ghi ra 
đĩa và dường link trên youtobe: kèm theo) 
 A. Hoạt động khởi động: Tiếp nhận ý tưởng và nhiệm vụ dự án. 
 1. Mục tiêu: 
 - HS cần biết phần kiến thức liên quan được đề cập: Cân bằng của vật có mặt 
chân đế. 
 - HS nắm được ý nghĩa của dự án cần thực hiện. 
 2. Nội dung: HS lắng nghe và hình thành ý tưởng dự án qua video trình chiếu 
và tên dự án. 
 3. Sản phẩm: Hoàn thành việc tiếp nhận ý tưởng SP dự án. 
 4. Tổ chức thực hiện. 
 GV chuyển giao nhiệm HS thực hiện nhiệm Nội dung cần đạt 
 vụ vụ 
- Các bạn có biết trong Slide 1 
cuộc sống chúng ta mọi sự 
mọi sự vật, hiện tượng cần 
phải có một trạng thái cân Tiếp nhận và thực hiện 
bằng, khi cân bằng bền nhiệm vụ. 
vững thì không bao giờ bị 
ngã. 
- Trình chiếu Slide 1. 
Cho HS nhận xét về các HS nhận xét 
hình ảnh trên? 
 19 

File đính kèm:

  • pdfskkn_to_chuc_day_hoc_du_an_duoi_hinh_thuc_truc_tuyen_chu_de.pdf