SKKN Ứng dụng chuyển đổi số trong công tác chủ nhiệm lớp ở Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Xuân Ôn, tỉnh Nghệ An

Trong những năm gần đây, chuyển đổi số đã và đang tạo ra nhiều thay đổi tích cực với ngành giáo dục tại Việt Nam. Sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, ứng dụng di động đã tạo điều kiện cho chuyển đổi số trong giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn, tạo cơ hội cho mọi người có thể học và tương tác ở mọi lúc, mọi nơi. Trong bối cảnh môi trường kĩ thuật số phát triển rất nhanh và ngày càng trở nên phổ biến, các thầy, cô giáo cần nỗ lực để khai thác thế mạnh kĩ thuật số mang lại để giúp học sinh có được các năng lực, phẩm chất cũng như những năng lực số cơ bản cũng giúp các em linh hoạt, dễ dàng thích nghi để sống, làm việc và thành công trong điều kiện mới.

Trong thực tế, giáo viên chủ nhiệm vừa là giáo viên giảng dạy, vừa làm chủ nhiệm sẽ đảm đương cả hai nội dung cơ bản trong chuyển đổi số của mỗi nhà trường đó là chuyển đổi số trong quản lý giáo dục và chuyển đổi số trong dạy học, kiểm tra, đánh giá. Việc giáo viên chủ nhiệm ứng dụng hợp lí công nghệ thông tin – truyền thông có mối tương quan tích cực với trình độ kỹ năng số của học sinh, góp phần lan tỏa nhanh và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số trong nhà trường. Thế nhưng, thực trạng vận dụng chuyển đổi số trong công tác chủ nhiệm lớp hiện nay còn rất chậm, chưa phát huy được năng lực của giáo viên, học sinh và cơ sở vật chất hiện tại. Giáo viên chủ yếu chỉ quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ số vào công tác chuyên môn, hỗ trợ trong bài dạy chứ chưa đầu tư nhiều cho công tác chủ nhiệm. Chính vì vậy, việc tương tác giữa giáo viên và học sinh cũng như việc tổ chức các hoạt động giáo dục trong công tác chủ nhiệm chưa đạt hiệu quả cao.

Trong bối cảnh tình hình dịch bệnh chưa được kiểm soát hoàn toàn, chúng ta vẫn cần áp dụng linh hoạt các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục trực tuyến kết hợp với trực tiếp. Việc ứng dụng công nghệ số không những sẽ khắc phục được những khó khăn cho công tác chủ nhiệm mà còn tạo ra bầu không khí mới mẻ hấp dẫn thu hút hơn trong giáo dục nói chung và công tác chủ nhiệm nói riêng. Trong mối quan hệ Gia đình – Nhà trường – Xã hội, vai trò của giáo viên chủ nhiệm rất quan trọng, vừa là lực lượng chính vừa là cầu nối hữu hiệu nhất trong việc thực hiện chuyển đổi số từ nhà trường đến với học sinh và cha mẹ học sinh. Xuất phát từ thực tế trên, qua một thời gian nghiên cứu và thực nghiệm, chúng tôi mạnh dạn đề xuất đề tài “Ứng dụng chuyển đổi số trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học phổ thông Nguyễn Xuân Ôn, tỉnh Nghệ An”.

pdf 78 trang Giang Thanh 28/11/2025 2790
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Ứng dụng chuyển đổi số trong công tác chủ nhiệm lớp ở Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Xuân Ôn, tỉnh Nghệ An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Ứng dụng chuyển đổi số trong công tác chủ nhiệm lớp ở Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Xuân Ôn, tỉnh Nghệ An

SKKN Ứng dụng chuyển đổi số trong công tác chủ nhiệm lớp ở Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Xuân Ôn, tỉnh Nghệ An
 PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ 
 1. Lý do chọn đề tài. 
 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư còn gọi là thời đại 4.0 đã tác động 
mạnh mẽ đến sự phát triển xã hội và ảnh hưởng sâu rộng đến giáo dục. Chuyển đổi 
số trong giáo dục là quá trình chuyển đổi hoạt động giáo dục từ không gian truyền 
thống sang không gian số thông qua công nghệ mới, thay đổi các phương thức giáo 
dục nhằm phát huy tối đa khả năng tư duy sáng tạo, chủ động của giáo viên và học 
sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. Dự thảo kế hoạch 
chuyển đổi số trong giáo dục giai đoạn 2021 – 2025 (tầm nhìn 2030) đã đặt ra mục 
tiêu đổi mới mạnh mẽ phương thức dạy học, hình thức kiểm tra đánh giá, đưa 
tương tác trải nghiệm trên môi trường số trở thành hoạt động giáo dục thiết yếu 
hàng ngày với mỗi người học và mỗi nhà giáo, nâng cao năng lực tự học cho người 
học, thúc đẩy phát triển năng lực số cho người dạy, đáp ứng yêu cầu của giáo dục 
trong thời đại 4.0. 
 Trong những năm gần đây, chuyển đổi số đã và đang tạo ra nhiều thay đổi 
tích cực với ngành giáo dục tại Việt Nam. Sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, 
ứng dụng di động đã tạo điều kiện cho chuyển đổi số trong giáo dục phát triển 
mạnh mẽ hơn, tạo cơ hội cho mọi người có thể học và tương tác ở mọi lúc, mọi 
nơi. Trong bối cảnh môi trường kĩ thuật số phát triển rất nhanh và ngày càng trở 
nên phổ biến, các thầy, cô giáo cần nỗ lực để khai thác thế mạnh kĩ thuật số mang 
lại để giúp học sinh có được các năng lực, phẩm chất cũng như những năng lực số 
cơ bản cũng giúp các em linh hoạt, dễ dàng thích nghi để sống, làm việc và thành 
công trong điều kiện mới. 
 Trong thực tế, giáo viên chủ nhiệm vừa là giáo viên giảng dạy, vừa làm chủ 
nhiệm sẽ đảm đương cả hai nội dung cơ bản trong chuyển đổi số của mỗi nhà 
trường đó là chuyển đổi số trong quản lý giáo dục và chuyển đổi số trong dạy học, 
kiểm tra, đánh giá. Việc giáo viên chủ nhiệm ứng dụng hợp lí công nghệ thông tin 
– truyền thông có mối tương quan tích cực với trình độ kỹ năng số của học sinh, 
góp phần lan tỏa nhanh và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số trong nhà 
trường. 
 Thế nhưng, thực trạng vận dụng chuyển đổi số trong công tác chủ nhiệm lớp 
hiện nay còn rất chậm, chưa phát huy được năng lực của giáo viên, học sinh và cơ sở 
vật chất hiện tại. Giáo viên chủ yếu chỉ quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ số 
vào công tác chuyên môn, hỗ trợ trong bài dạy chứ chưa đầu tư nhiều cho công tác 
chủ nhiệm. Chính vì vậy, việc tương tác giữa giáo viên và học sinh cũng như việc tổ 
chức các hoạt động giáo dục trong công tác chủ nhiệm chưa đạt hiệu quả cao. 
 Trong bối cảnh tình hình dịch bệnh chưa được kiểm soát hoàn toàn, chúng ta 
vẫn cần áp dụng linh hoạt các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục trực tuyến kết 
hợp với trực tiếp. Việc ứng dụng công nghệ số không những sẽ khắc phục được 
 1 những khó khăn cho công tác chủ nhiệm mà còn tạo ra bầu không khí mới mẻ hấp 
dẫn thu hút hơn trong giáo dục nói chung và công tác chủ nhiệm nói riêng. 
 Trong mối quan hệ Gia đình – Nhà trường – Xã hội, vai trò của giáo viên chủ 
nhiệm rất quan trọng, vừa là lực lượng chính vừa là cầu nối hữu hiệu nhất trong 
việc thực hiện chuyển đổi số từ nhà trường đến với học sinh và cha mẹ học sinh. 
 Xuất phát từ thực tế trên, qua một thời gian nghiên cứu và thực nghiệm, 
chúng tôi mạnh dạn đề xuất đề tài “Ứng dụng chuyển đổi số trong công tác chủ 
nhiệm lớp ở trường trung học phổ thông Nguyễn Xuân Ôn, tỉnh Nghệ An”. 
 2. Mục đích nghiên cứu. 
 - Khắc phục được một số tồn tại trong thực tiễn của công tác chủ nhiệm lớp, 
phù hợp xu thế thời đại 4.0. 
 - Đề xuất một số giải pháp có ứng dụng chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả 
công tác chủ nhiệm lớp và góp phần phát triển kĩ năng chuyển đổi số cho học sinh 
trường THPT Nguyễn Xuân Ôn, tỉnh Nghệ An. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu. 
 - Nghiên cứu cơ sở lý luận về chuyển đổi số trong giáo dục. 
 - Đánh giá thực trạng về việc ứng dụng chuyển đổi số hiện nay trong công tác 
chủ nhiệm ở các trường THPT nói chung và trường THPT Nguyễn Xuân Ôn nói 
riêng. 
 - Đề xuất các giải pháp có ứng dụng chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả công 
tác chủ nhiệm lớp và góp phần phát triển năng lực số và kĩ năng chuyển đổi số cho 
học sinh trường THPT Nguyễn Xuân Ôn, tỉnh Nghệ An. 
 - Xây dựng kế hoạch bài dạy minh họa phát triển năng lực số cho học sinh lớp 
chủ nhiệm, thực nghiệm và đánh giá. 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 
 - Một số giải pháp ứng dụng chuyển đổi số trong công tác chủ nhiệm lớp, áp 
dụng tại trường THPT Nguyễn Xuân Ôn, tỉnh Nghệ An (lớp 10A1 năm học 2021-
2022, lớp 11A1 năm học 2022-2023; lớp 12A7 năm học 2021-2022, lớp 10A6 năm 
học 2022-2023). 
 - Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8 năm 2021 đến tháng 3 năm 2023. 
 5. Phương pháp nghiên cứu. 
 5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận. 
 - Phân tích, so sánh, hệ thống hóa những cơ sở lý luận liên quan đến đề tài 
nghiên cứu. 
 5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn. 
 5.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm. 
 2 - Quan sát việc sử dụng công nghệ số trong quá trình học tập và rèn luyện của 
học sinh trường THPT Nguyễn Xuân Ôn. 
 - Quan sát việc ứng dụng chuyển đổi số trong quá trình thực hiện công tác chủ 
nhiệm của các giáo viên trường THPT Nguyễn Xuân Ôn. 
 5.2.2. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp. 
 - Phỏng vấn trực tiếp học sinh, giáo viên, phụ huynh về các khó khăn và các 
giải pháp đã thực hiện trong quá trình chuyển đổi số trong trường học khi thực hiện 
các hoạt động giáo dục của công tác chủ nhiệm. 
 5.2.3. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, bằng mạng xã hội đối với đề tài. 
 - Xây dựng phiếu hỏi, điều tra khảo sát về thực trạng và các giải pháp đã thực 
hiện về vấn đề ứng dụng chuyển đổi số trong công tác chủ nhiệm. 
 - Sử dụng các ứng dụng Zalo, messenger, gmail để đăng tải và gửi các phiếu 
điều tra khảo sát đến các GV và HS trong và ngoài trường trên địa bàn. 
 5.2.4. Phương pháp thống kê. 
 - Thống kê số liệu thu thập được từ kết quả khảo sát để thấy rõ được nhu cầu 
và tính cấp thiết của việc chuyển đổi số trong công tác chủ nhiệm cũng như tính 
khả thi và hiệu quả của các giải pháp có trong để tài. 
 6. Tính mới và đóng góp của đề tài. 
 - Đề tài đưa ra các giải pháp mới mẻ, hiệu quả, dễ áp dụng trong công tác chủ 
nhiệm lớp bằng cách ứng dụng chuyển đổi số, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của giáo 
dục trong thời đại 4.0. 
 - Các giải pháp đề tài đưa ra không những hướng đến đội ngũ GV đang và sẽ 
làm công tác chủ nhiệm lớp mà còn tập trungvào HS, định hướng phát triển nhiều 
phẩm chất và năng lực quan trọng cho các em. 
 - Theo hướng nghiên cứu của đề tài, HS được tham gia vào việc ứng dụng 
CNTT để tìm hiểu và thực hiện các nhiệm vụ giáo dục do GVCN tổ chức, qua đó 
góp phần phát triển năng lực số cho HS. 
 - Góp phần tạo ra môi trường giáo dục linh hoạt, tăng khả năng tương tác hai 
chiều giữa GV và HS (cả PH) mà không bị giới hạn bởi không gian và ngoại cảnh, 
tạo ra mối quan hệ gần gũi, gắn bó mật thiết giữa GV-HS-PH, đảm bảo hoàn thành 
tốt kế hoạch giáo dục ngay cả trong hoàn cảnh thay đổi do dịch bệnh và thời tiết. 
 - Đề tài góp phần tuyên truyền, lan tỏa, nâng cao nhận thức của giáo viên, học 
sinh, phụ huynh về ứng dụng chuyển đổi số trong giáo dục. 
 3 PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 
 1. Cơ sở lí luận 
 1.1. Các khái niệm cơ bản. 
 1.1.1. Công nghệ số là các công cụ, hệ thống thiết bị và tài nguyên điện tử tạo 
ra, lưu trữ và xử lí dữ liệu. Công nghệ số là nói đến các công nghệ mới của cách 
mạng 4.0 như: trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, chuỗi khối, internet vạn vật. 
Các công nghệ này có tính cách mạng ở chỗ nó thay thế trí tuệ con người tạo ra 
một nguồn tài nguyên mới là dữ liệu đưa vạn vật vào không gian mạng và khi đó, 
vạn vật trở nên sống động như con người. 
 1.1.2. Năng lực số (Digital Literacy - Theo UNICEF 2019) đề cập đến kiến 
thức, kỹ năng và thái độ cho phép trẻ phát triển và phát huy tối đa khả năng trong 
thế giới công nghệ số ngày càng lớn mạnh trên phạm vi toàn cầu, một thế giới mà 
trẻ vừa được an toàn, vừa được trao quyền theo cách phù hợp với lứa tuổi cũng 
như phù hợp với văn hóa và bối cảnh địa phương. 
 Năng lực số (NLS) được xem là yếu tố sống còn để đạt đến thành công trong 
học tập, nghiên cứu và phát triển sự nghiệp trong tương lai: đa phần vị trí việc làm 
sẽ được số hóa, khả năng sử dụng công nghệ số là đòi hỏi của hầu hết mọi ngành 
nghề, các ngành công nghiệp số trở thành nhân tố then chốt của nền kinh tế, các cơ 
sở giáo dục trở thành những mô hình doanh nghiệp số, giảng viên và sinh viên phải 
là những người tận dụng được các lợi ích của công nghệ, đồng thời hỗ trợ cộng 
đồng và thúc đẩy khả năng đổi mới, sáng tạo của các thế hệ kế tiếp. 
 1.1.3. Khung năng lực số là một tập hợp các năng lực thành phần để nâng cao 
năng lực của một nhóm đối tượng cụ thể. 
 a. Khung năng lực số dành cho học sinh THPT (dựa trên khung năng lực của 
Unesco 2018) bao gồm 7 miền năng lực và 26 năng lực thành phần: 
 Miền năng lực Năng lực thành phần 
 1. Vận hành các 1.1 Sử dụng thiết bị phần cứng 
 thiết bị kỹ thuật số 1.2 Sử dụng phần mềm trong thiết bị số 
 2.1 Duyệt, tìm kiếm và lọc dữ liệu, thông tin và nội dung số 
 2. Kĩ năng về thông 
 2.2 Đánh giá dữ liệu, thông tin và nội dung số 
 tin và dữ liệu. 
 2.3 Quản lý dữ liệu, thông tin và nội dung số 
 3.1 Tương tác thông qua các thiết bị số 
 3. Giao tiếp và hợp 
 tác trên môi trường 3.2 Chia sẻ thông qua công nghệ số 
 số 
 3.3. Tham gia với tư cách công dân thông qua công nghệ số 
 4 3.4 Hợp tác thông qua công nghệ số 
 3.5 Chuẩn mực giao tiếp 
 3.6 Quản lý định danh cá nhân 
 4.1 Phát triển nội dung số 
 4. Tạo lập sản phẩm 4.2 Tích hợp và điều chỉnh nội dung số 
 số 4.3 Bản quyền 
 4.4 Lập trình 
 5.1 Bảo vệ thiết bị 
 5. An toàn kĩ thuật 5.2 Bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư 
 số 
 5.3 Bảo vệ sức khỏe tinh thần và thể chất 
 5.4 Bảo vệ môi trường 
 6.1 Giải quyết các vấn đề kĩ thuật 
 6.2 Xác định nhu cầu và phản hồi công nghệ 
 6. Giải quyết vấn đề 
 6.3 Sử dụng sáng tạo thiết bị số 
 6.4 Xác định thiếu hụt về năng lực số 
 6.5 Tư duy máy tính (Computational Thinking) 
 7.1 Vận hành những công nghệ số trong một lĩnh vực đặc 
 7. Sử dụng NLS cho thù 
 nghề nghiệp 
 7.2 Thao tác với dữ liệu, nội dung kĩ thuật số cho một lĩnh 
 vực đặc thù 
 Năng lực số trong chương trình môn Tin học của Việt Nam (2018) ban hành 
theo Quyết định số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2020. Năng lực 
Tin học bao gồm 05 năng lực thành phần sau: 
 + NLa: Sử dụng và quản lí các phương tiện công nghệ thông tin và truyền 
thông; 
 + NLb: Ứng xử phù hợp trong môi trường số; 
 + NLc: Giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền 
thông; 
 + NLd: Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong học và tự học; 
 + NLe: Hợp tác trong môi trường số. 
 5 b. Khung năng lực số dành cho giáo viên, bao gồm 6 miền năng lực và 3 mức 
độ 
 Các miền năng lực: 
 + Hiểu CNTT-TT trong chính sách giáo dục: khuyến khích các giáo viên 
nhận thức được cách CNTT-TT có thể được điều chỉnh phù hợp với các ưu tiên 
giáo dục quốc gia như được thể hiện trong môi trường chính sách. 
 + Chương trình dạy học và đánh giá: khai thác cách CNTT-TT có thể hỗ trợ 
các mục đích đặc thù như được xác định trong chương trình giảng dạy, và đóng vai 
trò trong việc hỗ trợ đánh giá. 
 + Phương pháp sư phạm: khuyến khích các giáo viên chiếm lĩnh được các kỹ 
năng CNTT-TT để hỗ trợ các phương pháp dạy và học hiệu quả. 
 + Ứng dụng các kỹ năng số: các kỹ năng CNTT-TT cơ bản là điều kiện tiên 
quyết cho việc tích hợp công nghệ vào các nhiệm vụ của giáo viên. 
 + Tổ chức và quản lí: gợi ý các cách thức để quản lý các tài sản số của trường 
học cũng như bảo vệ những người sử dụng chúng. 
 + Phát triển chuyên môn giáo viên: gợi ý các cách thức CNTT-TT có thể trao 
quyền cho các giáo viên để tham gia phát triển chuyên môn liên tục. 
 Đối với các miền năng lực số của GV, UNESCO chỉ ra có 3 mức độ tương 
ứng mà GV cần phát triển. Mức đầu tiên tương ứng việc các GV có xu hướng sử 
dụng công nghệ để bổ sung cho những gì họ làm trong lớp học; mức thứ 2 tương 
ứng việc GV bắt đầu khai thác sức mạnh thực sự của công nghệ và thay đổi cách 
thức họ dạy cũng như cách HS học; mức thứ 3 là sự biến đổi, khi các GV và HS 
sáng tạo tri thức và đề ra được những cải tiến kế hoạch hành động sáng tạo ở mức 
cao nhất của bảng phân loại Bloom. Cụ thể như sau: 
 Mức độ Chiếm lĩnh 
 Đào sâu tri thức Sáng tạo tri thức 
Miền năng lực tri thức 
 Hiểu ICT trong Hiểu về chính Áp dụng chính Đổi mới chính 
 giáo dục sách sách sách 
 Chương trình 
 Kiến thức cơ bản Áp dụng kiến thức Tri thức 
 kiểm tra đánh giá 
 Dạy học tăng 
 Phương pháp sư Giải quyết vấn đề 
 cường ứng dụng Tự quản lí 
 phạm phức tạp 
 ICT 
 Ứng dụng kĩ năng 
 Vận dụng Áp dụng Chuyển đổi 
 số 
 Tổ chức và quản 
 Lớp truyền thống Cộng tác nhóm Tổ chức học tập 
 lí 
 Phát triển chuyên GV như nhà đổi 
 Kĩ năng số Mạng lưới 
 môn mới 
 6 
 1.2. Chuyển đổi số trong giáo dục. 
 1.2.1. Khái niệm 
 Chuyển đổi số trong giáo dục là quá trình chuyển đổi hoạt động giáo dục từ 
không gian truyền thống sang không gian số thông qua công nghệ mới, thay đổi 
phương thức dạy học, kiểm tra đánh giá và quản líquá trình dạy học nhằm đáp ứng 
nhu cầu học tập, giảng dạy, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. 
 Chuyển đổi số trong giáo dục bao gồm chuyển đổi số trong công tác quản lý 
giáo dục và trong dạy học. Chuyển đổi số trong quản lý giáo dục là số hóa thông 
tin quản lý, tạo ra những hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) lớn liên thông, triển khai 
các dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng các Công nghệ 4.0 để quản lý, điều hành, 
dự báo, hỗ trợ các cấp lãnh đạo, quản lý ra quyết định trong lãnh đạo, điều hành. 
Chuyển đổi số trong dạy học là thay đổi phương thức dạy học, kiểm tra, đánh giá, 
số hóa học liệu (sách giáo khoa điện tử, bài giảng điện tử, kho bài giảng e-learning, 
ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm), thư viện số, phòng thí nghiệm ảo, triển khai hệ 
thống đào tạo trực tuyến 
 Theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ, 
Giáo dục là lĩnh vực được ưu tiên chuyển đổi số thứ 2 sau lĩnh vực Y tế. Điều đó 
cho thấy tầm quan trọng của giáo dục và chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục 
đóng vai trò hết sức quan trọng, không chỉ đối với ngành mà còn tác động rất lớn 
đối với đất nước. 
 1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực số của học sinh 
 Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra các yếu tố sau đây có ảnh hưởng đến 
năng lực số của HS: 
 - Môi trường xã hội : bao gồm cơ sở hạ tầng, chất lượng công nghệ; chi phí 
cho việc sử dụng hạ tầng CNTT. 
 - Bối cảnh gia đình: Hiểu biết của gia đình về vai trò của CNTT-TT đối với 
tương lai của học sinh, sự giáo dục gia đình là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến 
năng lực số của các em. 
 - Các nhà trường đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực 
số cho học sinh. Các trường học cũng như các trung tâm học tập cộng đồng là chìa 
khóa để nâng cao nhận thức, xây dựng kĩ năng tư duy phản biện và khả năng thích 
nghi cũng như có ảnh hưởng đến chiến lược công nghệ hỗ trợ trung gian của các 
gia đình. 
 - Vai trò của tổ chức, cá nhân trong việc hỗ trợ phát triển năng lực số cho trẻ 
em ngày càng được thừa nhận, cả về nỗ lực trong thiết kế các thiết bị và dịch vụ 
giúp trao quyền và bảo vệ trẻ em thông qua việc áp dụng xóa mù công nghệ số 
hiệu quả và các cơ chế an toàn. 
 7 - Môn Tin học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành năng lực số cho 
học sinh. 
 - Việc giáo viên sử dụng CNTT –TT (ICT) có mối tương quan tích cực với 
trình độ kỹ năng số của HS. Nếu nhà trường muốn phát triển tốt nhất kỹ năng số 
của HS thì cần phải đầu tư vào đào tạo CNTT-TT cho GV, đồng thời hỗ trợ tích 
hợp CNTT-TT vào chương trình giảng dạy. 
 Nghiên cứu của UNESCO cũng chỉ ra phát triển năng lực số có liên quan đến 
các yếu tố sau: 
 Thứ nhất, năng lực số bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi việc sử dụng hơn là tiếp 
cận. Nghĩa là việc có được thiết bị CNTT-TT không đảm bảo rằng nó sẽ được sử 
dụng trong thực tế. 
 Thứ hai, điều quan trọng không phải là thời gian ngồi trước máy tính mà là 
việc khai thác hết các chức năng của máy tính, cả ở nhà và ở trường. 
 Thứ ba, năng lực số bị ảnh hưởng bởi số năm trẻ sử dụng máy tính: càng sớm 
có kỹ năng số thì tác động càng lớn. 
 Thứ tư, cần tăng cường kỹ năng về ngôn ngữ viết của học sinh như đọc, hiểu 
và xử lý văn bản để phát triển các kỹ năng số cho các em. 
 Thứ năm, việc giáo viên ứng dụng CNTT-TT có mối tương quan tích cực với 
trình độ kỹ năng số của học sinh: nếu nhà trường muốn phát triển tốt nhất năng lực 
số của học sinh thì cần phải đầu tư vào đào tạo CNTT-TT cho giáo viên, đồng thời 
hỗ trợ tích hợp CNTT-TT vào chương trình giảng dạy (UNESCO 2017). 
 1.2.3. Một số điều kiện đảm bảo thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục 
 Một là, tăng cường công tác truyền thông, nâng cao nhận thức của nhà giáo, 
cán bộ quản lý, học sinh, học viên, sinh viên và cha mẹ các em để quán triệt quan 
điểm chuyển đổi số là xu thế tất yếu của ngành, diễn ra với tốc độ rất nhanh và 
không thể không thực hiện nếu không muốn lạc hậu với xu thế phát triển. 
 Hai là, hoàn thiện cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý: Các chính sách liên 
quan đến học liệu (sở hữu trí tuệ, bản quyền tác giả); chất lượng việc dạy học trên 
môi trường mạng (an toàn thông tin mạng); bảo vệ thông tin cá nhân, an ninh 
thông tin trên môi trường mạng; kiểm định chất lượng, tính pháp lý và công nhận 
kết quả khi dạy - học trực tuyến. 
 Ba là, đảm bảo đồng bộ điều kiện hạ tầng CNTT, cơ sở vật chất của các cơ sở 
giáo dục, cơ quan quản lý nhà nước về GDĐT. Để thực hiện chuyển đổi số trong 
giáo dục cần phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ 
số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng 
nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực 
tuyến. Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa. 
 8 Bốn là, đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực của ngành trong thực hiện chuyển 
đổi số (kiến thức, kỹ năng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Trước hết là kỹ năng sử 
dụng CNTT, kỹ năng an toàn thông tin, kỹ năng khai thác, sử dụng hiệu quả các 
ứng dụng phục vụ công việc dạy - học). 
 1.3. Đặc điểm của công tác chủ nhiệm lớp. 
 Công tác chủ nhiệm lớp được giao cho một giáo viên, là người được Hiệu 
trưởng bổ nhiệm, phân công chịu trách nhiệm về một lớp trong nhà trường. GVCN 
lớp là người thay mặt hiệu trưởng quản lý, tổ chức, giáo dục học sinh trong một 
lớp và chịu trách nhiệm trước ban giám hiệu, trước hội đồng giáo dục nhà trường 
về chất lượng giáo dục của lớp mình phụ trách. 
 Vai trò quản lí của GVCN lớp thể hiện trong việc xây dựng và tổ chức thực 
hiện các kế hoạch giáo dục, đôn đốc, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập và tu 
dưỡng của học sinh trong lớp. Có thể nói GVCN chính là linh hồn của tập thể lớp, 
vừa là nhà quản lí, vừa là nhà giáo dục trong một tập thể thu nhỏ. 
 Vai trò tổ chức của GVCN thể hiện trong việc thành lập bộ máy tự quản của 
lớp, phân công trách nhiệm cho từng cá nhân, các tổ, nhóm, đồng thời tổ chức thực 
hiện các mặt hoạt động theo kế hoạch giáo dục được xây dựng hàng tuần, hàng 
tháng. Các hoạt động của lớp được tổ chức đa dạng và toàn diện, GVCN quán 
xuyến tất cả các hoạt động một cách cụ thể, chặt chẽ. 
 Gia đình, nhà trường và xã hội là ba lực lượng giáo dục, trong đó nhà trường 
là cơ quan giáo dục chuyên nghiệp, hoạt động có mục tiêu, nội dung, chương trình 
và phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở khoa học, do vậy GVCN phải là người 
chủ đạo trong điều phối các hoạt động giáo dục cùng với các lực lượng giáo dục 
đó một cách có hiệu quả nhất. 
 Công tác chủ nhiệm lớp có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giáo dục toàn 
diện HS. Vì vậy, GVCN lớp không những phải là tấm gương sáng về mọi mặt mà 
còn phải không ngừng nâng cao trình độ tổ chức, quản lý, giáo dục của mình, liên 
tục cập nhật kiến thức kĩ năng mới, đảm bảo cho công tác chủ nhiệm được thực 
hiện với kết quả cao nhất, mang lại nhiều giá trị thiết thực cho HS, góp phần tích 
cực vào việc hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. 
 1.4. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm với chuyển đổi số trong nhà trường. 
 Ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số vào hoạt động quản lý giáo dục và dạy 
học đã đem lại hiệu quả thiết thực trong các nhà trường. Đặc biệt vai trò của 
GVCN rất quan trọng, đây là lực lượng chính và là cầu nối hữu hiệu nhất trong 
mối quan hệ Gia đình – Nhà trường – Xã hội, là lực lượng trung tâm trong việc 
thực hiện chuyển đổi số từ nhà trường đến với học sinh và cha mẹ học sinh. 
 Trong thực tế GVCN vừa là GV giảng dạy, vừa làm chủ nhiệm sẽ đảm đương 
cả 2 nội dung cơ bản trong chuyển đổi số của mỗi nhà trường đó là chuyển đổi số 
trong quản lý giáo dục và chuyển đổi số trong dạy học, kiểm tra, đánh giá. Ở bậc 
phổ thông, chuyển đổi số đã ngày một thấm sâu vào các hoạt động giảng dạy, học 
tập mang đến nhiều tín hiệu tích cực. Người GV trong thời đại mới cần nhận thức 
 9 sâu sắc được rằng: Sự bùng nổ về công nghệ giáo dục đã, đang và sẽ tạo ra những 
phương thức giáo dục phi truyền thống, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền 
giáo dục mang tính chuyển đổi sâu sắc vì con người. 
 Học sinh THPT bước vào thời kỳ đầu của tuổi thanh niên về sinh học, cấu 
trúc não đã phát triển tương đối hoàn thiện, các khả năng tư duy, phân tích, đánh 
giá, cảm giác, tri giác,... cũng dần hoàn thiện. Khả năng tự ý thức phát triển, hình 
thành thế giới quan, có ý thức làm việc hiệu quả và hoạt động giao tiếp phát triển. 
Giáo viên cần nắm được những điểm này để chỉ dẫn, khuyến khích các em thể hiện 
bản thân, phát huy hết khả năng trong học tập, có tư duy tích cực, đa chiều, biết tìm 
kiếm thông tin, chọn lọc, xử lý thông tin,... Nhất là trong điều kiện ngày nay, 
CNTT phát triển, các em vận dụng thành thạo các kỹ năng tin học vào việc xây 
dựng các sản phẩm của dự án sinh động, hấp dẫn và có tính hiệu quả cao. Ở lứa 
tuổi này cũng dần phát triển, bắt đầu định hình nhân cách, có những hiểu biết nhất 
định về thế giới xung quanh, thích tiếp cận cái mới và biết ứng dụng nhanh, hiệu 
quả những kỹ năng CNTT vào lớp học. 
 Để thực hiện tốt các nhiệm vụ của công tác chủ nhiệm trong thời đại mới, yêu 
cầu quan trọng đối với GV hiện nay đó là: 
 Thứ nhất, phải hiểu biết về công nghệ, không có hiểu biết về công nghệ đồng 
nghĩa với việc GV không thể thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục, giáo viên bị 
hạn chế về phương pháp dạy học. Đồng thời, HS cũng bị hạn chế cơ hội học tập, 
phát triển, khó có thể tiếp cận với tri thức, hệ thống học tập số hóa. 
 Thứ hai, cập nhật kiến thức thường xuyên, một vấn đề bức thiết của thời đại 
công nghệ số chính là kiến thức nhanh chóng bị lạc hậu. Yêu cầu đặt ra cho GV là 
phải nhanh chóng bắt kịp những thay đổi, cập nhật kiến thức mới thường xuyên. 
 Thứ ba, phải có phương pháp sư phạm, phương pháp sư phạm nắm giữ vai trò 
vô cùng quan trọng đối với người thầy trong thời đại này. Giáo viên cần phải học 
phương pháp một cách bài bản, cần có những trải nghiệm để vận dụng phương 
pháp một cách thông minh nhất và hiệu quả nhất. Với mỗi đối tượng HS, người 
thầy sẽ áp dụng những phương pháp khác nhau, GV phải có sự nhạy bén, tinh tế, 
sáng tạo để làm cho quá trình giáo dục là quá trình người học chủ động tham gia 
vào các hoạt động, qua đó phát triển phẩm chất năng lực cho bản thân. 
 Trên thực tế, để không bị công nghệ thay thế thì GV cần làm được những điều 
mà công nghệ chưa làm được. Công việc của nhà giáo đặc biệt vì người thầy lao 
động bằng trái tim, lao động để nuôi dưỡng trái tim. Khi người thầy sử dụng trái tim 
để giáo dục HS thì họ sẽ tạo ra những đứa trẻ biết thương yêu, biết quan tâm, hình 
thành nhân cách, đạo đức, lối sống. Đó chính là một trong những nhiệm vụ cao quý 
mà robot không bao giờ thay thế được vị trí của người thầy trong thời đại 4.0. 
 1.5. Các bước tiến hành đưa ứng dụng chuyển đổi số vào các hoạt động 
giáo dục của công tác chủ nhiệm. 
 Xây dựng Công tác Tổ chức Đánh giá 
 kế hoạch chuẩn bị hoạt động kết quả 
 10 
 Bước 1. Xây dựng những nội dung trong công tác chủ nhiệm có thể tổ chức 
các hoạt động trải nghiệm ứng dụng chuyển đổi số cho học sinh. Từ đó xác định 
mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động. 
 Bước 2. Hướng dẫn, phân công cho các nhóm học sinh/học sinh chuẩn bị 
tham gia vào các hoạt động giáo dục dựa trên tinh thần trách nhiệm, hợp tác. Tùy 
thuộc vào thực tế cơ sở vật chất nhà trường, năng lực học sinh mà giáo viên lựa 
chọn các ứng dụng công nghệ thông tin sao cho phù hợp nhất. 
 Bước 3. Tiến hành cho học sinh tham gia vào các hoạt động giáo dục ứng 
dụng công nghệ thông tin trong lớp, ngoài lớp với các hình thức khác nhau, đảm 
bảo học sinh được tự mình thực hiện. Trong quá trình đó, giáo viên phải thường 
xuyên bám sát, kiểm tra, góp ý chỉnh sửa để sản phẩm của học sinh có chất lượng 
tốt nhất. 
 Bước 4. Quá trình đánh giá kết quả của hoạt động trải nghiệm của học sinh, 
giáo viên cần nhấn mạnh mục tiêu cần đạt như giáo dục đạo đức, rèn luyện kĩ năng 
hay phát triển năng lực và phẩm chất học sinh. Kết thúc hoạt động trải nghiệm là 
thu nhận các thông tin phản hồi để rút kinh nghiệm cho các hoạt động kế tiếp. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 2.1. Thực trạng ứng dụng chuyển đổi số trong công tác chủ nhiệm lớp tại 
các trường THPT trong giai đoạn hiện nay. 
 Sự ra đời của CNTT đem đến nhiều ảnh hưởng tích cực cho sự phát triển của 
giáo dục, chuyển đổi số đã ngày một “thấm sâu” vào các hoạt động dạy học, tạo ra 
môi trường học tập thuận lợi. Tuy nhiên, ứng dụng chuyển đổi số trong công tác 
chủ nhiệm lớp thì chưa thực sự được chú trọng, chưa phát huy hết tiềm năng của 
nguồn nhân lực và cơ sở vật chất đã có. 
 Hiện tại, 100% các nhà trường đã sử dụng một số phần mềm trong quản lý 
như: Phần mềm VNEdu, công nghệ LMS, nhiều nhà trường đã đầu tư phủ sóng 
wifi để GV, HS thuận tiện khi sử dụng các thiết bị thông minh trong dạy và học, 
việc này đã giúp cho công việc của GVCN thuận lợi hơn nhiều. 
 Thời gian gần đây, ứng dụng CNTT vào công tác chủ nhiệm đã được quan 
tâm chú ý nhưng sự vận dụng còn tự phát, đơn lẻ, chưa hệ thống, thiếu đồng bộ 
và thiếu quy trình cụ thể. GVCN chỉ quen sử dụng một số công cụ và phương tiện 
quen thuộc nên hiệu quả công tác chủ nhiệm chưa cao, chưa tạo nên sự chuyển 
biến thực sự trong trường học. 
 Chúng tôi tiến hành khảo sát GV đã và đang làm công tác chủ nhiệm trên một 
số trường trong tỉnh Nghệ An qua đường link: 
, nhận được 90 câu trả lời, trong đó đáng 
chú ý là 3 kết quả sau: 
 11 
 - Hơn 80% GV được hỏi cho 
biết việc ứng dụng CNTT trong 
công tác chủ nhiệm là cần thiết và 
rất cần thiết, vẫn còn 20% GV đánh 
giá việc đó bình thường. 
 - Về mức độ ứng dụng CNTT 
trong công tác chủ nhiệm, kết quả 
khảo sát cho thấy phần lớn GV 
(52,2%) chỉ dừng lại ở việc tương 
tác với HS qua Zalo, face book, 
messenger; 30% GV có sử dụng 
Power point để trình chiếu video, 
hình ảnh minh họa khi cần thiết; chỉ có lượng nhỏ GV (17,8%) chú ý đến việc tổ 
chức các hoạt động giáo dục cho HS ứng dụng công nghệ số để hoàn thành nhiệm 
vụ. 
 - Về những khó khăn 
trong quá trình chuyển đổi số 
vào công tác chủ nhiệm lớp, đa 
số GV (82,2%) cho rằng sẽ mất 
nhiều thời gian chuẩn bị và xử 
lý thông tin, hơn một nửa GV 
(54,4%) lo ngại để HS tiếp xúc 
nhiều với CNTT sẽ khiến các 
em dễ bị sa đà vào các mục 
đích xấu, làm mất thời gian, ảnh hưởng đến việc học tập khác. Chỉ có số ít GV 
(10%) cho rằng, lớp học không có tivi thông minh sẽ gây khó khăn cho việc ứng 
dụng CNTT. 
 Như vậy, việc ứng dụng chuyển đổi số vào công tác chủ nhiệm đang chuyển 
biến chậm chưa có chiều sâu chủ yếu là do nhận thức và suy nghĩ chủ quan của 
GV, chứ không phải là do cơ sở vật chất nhà trường. 
 2.2. Thực trạng ứng dụng chuyển đổi số trong công tác chủ nhiệm lớp tại 
trường THPT Nguyễn Xuân Ôn. 
 2.2.1. Sơ lược về tình hình nhà trường và công tác chủ nhiệm lớp tại THPT 
Nguyễn Xuân Ôn. 
 12 Trường THPT Nguyễn Xuân Ôn được thành lập năm 1946, đến nay đã trải 
qua 77 năm xây dựng và phát triển. Trường đóng ở vùng trung tâm của huyện Diễn 
Châu có nhiều điểm thuận lợi trong việc tổ chức hoạt động dạy học như: Có cơ sở 
vật chất tương đối đảm bảo để phục vụ hoạt động dạy học; có đội ngũ cán bộ, giáo 
viên đủ về số lượng và mạnh về chất lượng; chất lượng đầu vào khá (> 23,0 điểm); 
học sinh đa số ngoan, chăm học; đời sống nhân dân tương đối phát triển 
 Về cơ sở vật chất phục vụ dạy học: nhà trường đã làm tốt công tác xã hội hóa 
giáo dục để xây dựng được 39 phòng học kiên cố, mỗi phòng đều được lắp một 
máy chiếu hoặc tivi để phục vụ dạy học; 03 phòng máy tính; 01 phòng học tiếng; 
01 nhà đa chức năng; 03 phòng thực hành Vật lí – Hóa học – Sinh học được đầu tư 
lắp mới thiết bị; Nhìn chung cơ sở vật chất của nhà trường đảm bảo phục vụ tốt 
cho dạy và học. 
 Hình ảnh các lớp học ở trường THPT Nguyễn Xuân Ôn đều có Tivi thông 
minh hoặc máy chiếu kèm loa. 
 Về chất lượng đội ngũ giáo viên: Năm học 2021-2022, trường THPT Nguyễn 
Xuân Ôn có 84 GV và 4 cán bộ quản lý, trong đó có 40 GV có trình độ thạc sỹ, 50 
đảng viên và 46 GV giỏi cấp Tỉnh, trong đó có 4 GVCN lớp giỏi. 
 Có thể nói nhà trường có một đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên mạnh, đảm 
bảo về số lượng, cơ cấu bộ môn và chất lượng cho việc thực hiện các hoạt động 
giáo dục của nhà trường. Ðội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên cơ bản đáp ứng yêu 
cầu nhiệm vụ, trình độ chuyên môn đều đạt chuẩn và trên chuẩn; có phẩm chất 
chính trị và đạo đức tốt; vững vàng về chuyên môn, nghiệp vụ, có ý thức vươn lên 
học tập để nâng cao trình độ tay nghề, đáp ứng với yêu cầu của đổi mới giáo dục 
và yêu cầu của xã hội. 
 Về công tác thu chi tài chính, đáng chú ý là từ năm học 2021-2022, trường 
THPT Nguyễn Xuân Ôn bắt đầu áp dụng và khuyến khích PH chuyển khoản qua 
ngân hàng khi nộp các khoản đóng góp cho HS. Điều này được PH và GV rất đồng 
tình ủng hộ vì PH không phải đi xa, không cần chờ đợi, lại có thể hoàn thành các 
khoản đóng góp cho con mọi lúc mọi nơi, cực kì thuận tiện. 
 13 
Hình ảnh mã tài khoản định danh của HS theo từng lớp kèm hướng dẫn sử dụng để 
PH chuyển khoản dễ dàng, thuận tiện. 
 Về công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT Nguyễn Xuân Ôn, hàng năm hiệu 
trưởng đều chú trọng việc lựa chọn những GV tâm huyết với nghề, có trình độ đào 
tạo đạt chuẩn và trên chuẩn, nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm. Ban giám hiệu 
nhà trường luôn xem mỗi lớp học là mô hình trường học thu nhỏ nên đặc biệt quan 
tâm đến chất lượng của công tác chủ nhiệm lớp, chú trọng kiểm tra khâu lập kế 
hoạch chủ nhiệm của GV kèm theo sự theo dõi đánh giá trong quá trình thực hiện. 
Nhà trường cũng định ra tiêu chí thi đua cụ thể cho các lớp, kịp thời khen thưởng 
nêu gương những tập thể lớp và GVCN có cách làm hay, phương pháp tốt và đạt 
kết quả cao. 
 Đặc biệt, năm học 2020-2021, trường Nguyễn Xuân Ôn lần đầu tiên tổ chức 
hội thi GVCN lớp giỏi cấp trường và đã chọn ra được 4 GV tham gia hội thi 
GVCN lớp giỏi cấp tỉnh do Sở giáo dục và đào tạo Nghệ An tổ chức. Kết quả là cả 
4 GV của trường đều được công nhận là GVCN lớp giỏi cấp Tỉnh. Thành tích xuất 
sắc trên đã cổ vũ động viên và làm lan tỏa phong trào đổi mới trong công tác chủ 
nhiệm lớp, trong đó có việc GVCN ứng dụng chuyển đổi số trong tổ chức các hoạt 
động giáo dục. 
 Hình ảnh Cô giáo Nguyễn Thị Thu Yến tham gia hội thi GVCN lớp giỏi cấp 
Tỉnh năm học 2020-2021. 
 14 - Về học sinh: Chất lượng tuyển sinh đầu vào khá cao (điểm tuyển sinh vào 
10 năm học 2020-2021 là 24,75 điểm, năm học 2021-2022 là 23,5 điểm, năm học 
2022-2023 là 14,35 điểm (không nhân hệ số 2 với môn văn và toán); hầu hết học 
sinh ngoan, năng động, có ý thức trong học tập. 
 2.2.3. Thực trạng ứng dụng chuyển đổi số trong công tác chủ nhiệm ở trường 
THPT Nguyễn Xuân Ôn. 
 a. Tiến hành khảo sát GV 
 Qua 4 câu hỏi nhiều lựa chọn, kết quả khảo sát ý kiến GV đã và đang làm 
công tác chủ nhiệm tại trường THPT Nguyễn Xuân Ôn qua đường link 
 chúng tôi nhận được 40 câu trả lời, cụ thể 
như sau: 
 - Kết quả khảo sát cho thấy hơn 97% GV cho rằng việc ứng dụng CNTT vào 
công tác chủ nhiệm là cần thiết và rất cần thiết. Điều này chứng tỏ những năm học 
gần đây, nhận thức của đội ngũ GVCN của trường THPT Nguyễn Xuân Ôn về tính 
cấp thiết phải đổi mới trong công tác chủ nhiệm lớp đã thay đổi và có nhiều chuyển 
biến. 
 - Theo kết quả trên, hiện tại 100% GVCN của trường đã ứng dụng của mạng 
xã hội như là Zalo, mesenger, facebook, để trao đổi thông tin với PH và HS; hơn 
80% GVCN thỉnh thoảng dùng trình chiếu Power point khi thật cần thiết; mới chỉ 
có 7,5% GVCN thường xuyên tổ chức cho HS lớp chủ nhiệm tham gia vào các 
hoạt động giáo dục có ứng dụng chuyển đổi số. 
 15 Như vậy, có thể thấy, việc áp dụng CNTT vào tổ chức các hoạt động giáo dục 
đã được thực hiện, song đang ở mức độ đơn giản, không thường xuyên và chưa đa 
dạng. Thực trạng này chưa tương xứng với tiềm năng của đội ngũ GV và điều kiện 
cơ sở vật chất nhà trường. Sở dĩ như vậy vì GV gặp những khó khăn sau đây: 
Nguyên nhân chủ quan 
 + Có 80% GV cảm thấy bản thân chưa thành thạo việc ứng dụng CNTT, vào 
công tác chủ nhiệm, ngại đầu tư thêm thời gian để tìm hiểu cái mới; 77,5% GV cho 
rằng, việc ứng dụng CNTT để tổ chức các hoạt động giáo dục sẽ mất thời gian vào 
việc lên ý tưởng, chuẩn bị và xử lý thông tin; 75% GV lo ngại HS sẽ bị ảnh hưởng tới 
việc học tập vì sa đà vào các trang mạng xã hội và các trào lưu tiêu cực của giới trẻ. 
 Nguyên nhân khách quan 
 + Các lớp học chưa có máy tính riêng, trong khi đó không phải GVCN nào 
cũng có điều kiện đưa máy tính xách tay đến trường. 
 + Nhà trường chưa đồng bộ cơ sở vật chất, mạng wifi thiếu và yếu, GV muốn 
kết nối internet cho máy tính thường phải phát Wifi từ điện thoại cá nhân. 
 + Nội quy trường THPT Nguyễn Xuân Ôn và nhiều trường khác nữa không 
cho phép học sinh được sử dụng điện thoại khi đến trường là nguyên nhân khá 
phổ biến làm hạn chế rất nhiều việc ứng dụng CNTT vào dạy học cũng như tổ 
chức các hoạt động giáo dục bởi rất nhiều ứng dụng công nghệ số được phát triển 
và tích hợp vào smartphone. 
 b. Tiến hành khảo sát học sinh 
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát tìm hiểu thực trạng ứng dụng CNTT trong công 
tác chủ nhiệm lớp với HS trường THPT Nguyễn Xuân Ôn qua đường link 
Hơn 300 HS đã tham gia trả lời và chúng tôi chú ý hơn đến kết quả của 2 câu hỏi 
sau: 
 16 Có thể dễ dàng nhận thấy 
học sinh hoàn toàn ủng hộ 
và rất hứng thú khi tham 
gia các hoạt động giáo dục 
có ứng dụng công nghệ 
thông tin, ít nhất là các em 
đã nhìn thấy được ưu điểm 
và lợi ích khi sử dụng nó. 
 Qua kết quả điều tra, 
chúng tôi nhận thấy khó 
khăn chủ yếu của HS trong 
ứng dụng chuyển đổi số tập 
trung ở 2 vấn đề. 
 Thứ nhất, HS ở cấp 
THPT nhưng vẫn chưa được 
trang bị nhiều kĩ năng sử 
dụng và khai thác các ứng dụng CNTT. Điều này cho thấy chuyển đổi số và phát 
triển kĩ năng số chưa thực sự được quan tâm đúng mức ở trường học, chưa thường 
xuyên và chưa có chiều sâu. 
 Thứ hai, HS lo ngại việc sử dụng CNTT sẽ mất nhiều thời gian vì sợ không 
chiến thắng được cám dỗ và sẽ la cà sâu trên các trang mạng xã hội. Như vậy, trách 
nhiệm của GVCN là phải tuyên truyền, trao đổi để định hướng cho HS về cách 
khai thác CNTT theo các cấp độ từ đơn giản đến phức tạp, nhằm phát triển kĩ năng 
số cho các em theo hướng tích cực, lành mạnh, an toàn, văn minh. 
 Kết luận: 
 Từ những khảo sát trên chúng tôi nhận thấy: việc ứng dụng chuyển đổi số 
vào công tác chủ nhiệm lớp là rất cần thiết, bản thân các GVCN ý thức được tầm 
quan trọng và tính hiệu quả của nó khi áp dụng vào thực tế công việc. Tuy nhiên, 
vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan mà một bộ phận không nhỏ GVCN 
còn lười đổi mới, ít sáng tạo, không muốn ứng dụng CNTT vào công tác chủ 
nhiệm, chỉ lên lớp để đảm bảo đúng số tiết, đúng thời lượng của kế hoạch nhà 
trường. Các hoạt động giáo dục dành cho lớp chủ nhiệm được tiến hành một cách 
miễn cưỡng, gượng ép, chưa khơi dậy được hứng thú cho HS và chưa tận dụng hết 
thời gian, tiềm năng vốn có của cả GV lẫn HS, đồng thời gây lãng phí nguồn cơ sở 
vật chất hiện tại của nhà trường vì ít khi sử dụng đến. 
 3. Các giải pháp ứng dụng chuyển đổi số trong công tác chủ nhiệm lớp tại 
trường THPT Nguyễn Xuân Ôn, tỉnh Nghệ An. 
 3.1. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức 
của giáo viên, học sinh và phụ huynh về vai trò của việc ứng dụng chuyển đổi số 
trong công tác chủ nhiệm lớp ở giai đoạn hiện nay. 
 17 a. Mục tiêu 
 - Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho 
cán bộ quản lý và GV, HS và phụ huynh về vai trò của ứng dụng CNTT trong công 
tác chủ nhiệm lớp ở giai đoạn hiện nay. 
 - Giúp cho GV đang và sẽ làm công tác chủ nhiệm thấy được lợi ích và tầm 
quan trọng của việc ứng dụng chuyển đổi số trong trường học, đây là sự chuyển 
đổi phù hợp với xu thế phát triển hiện tại và đáp ứng nhu cầu học tập của HS. 
 b. Cách thức thực hiện: 
 - Ngay từ hội nghị công chức viên chức đầu năm học, hiệu trưởng nhà trường 
đã phổ biến, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm, thông suốt về tư 
tưởng và quyết tâm thực hiện chuyển đổi số trong việc thực hiện nhiệm vụ năm 
học của cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường; xây dựng văn hoá số trong 
nhà trường và lan tỏa đến phụ huynh học sinh. 
 - Hàng năm, nhà trường đều tổ chức tập huấn cho GVCN để nâng cao khả 
năng khai thác, khai thác và sử dụng hiệu quả kho học liệu số, học liệu điện tử, các 
phân hệ của Vn.edu trong quản lý học sinh. Bên cạnh bồi dưỡng về chuyên môn, 
nhà trường khuyến khích giáo viên chủ động học tập nâng cao kỹ năng ngoại ngữ, 
tin học bảo đảm ứng dụng tốt công nghệ trong dạy học. 
 - Tháng 4 năm 2021, nhà trường cử cô Nguyễn Thị Thu Yến và thầy Đậu 
Trọng Sơn tham gia lớp tập huấn về đổi mới công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ 
thông. Tháng 5 năm 2021, trường tổ chức cho hai thầy cô giáo tập huấn lại nội 
dung trên cho đội ngũ GV đã và sẽ làm công tác chủ nhiệm của trường. 
 - Ngoài tập huấn trực tiếp, GV còn được cung cấp đường link, các địa chỉ tin 
cậy trên Internet để tự tìm hiểu thêm. 
 Link chương trình tập huấn GVCN lớp ở trường THPT: 
 (1)
xWyq/edit?usp=sharing&ouid=112431821963641395958&rtpof=true&sd=true 
 (2)
YuJkB/edit?usp=sharing&ouid=112431821963641395958&rtpof=true&sd=truec. 
 (3)
hTC0has2/edit?usp=sharing&ouid=112431821963641395958&rtpof=true&sd=tr
uec. 
 (4)
kCWp8ki/edit?usp=sharing&ouid=112431821963641395958&rtpof=true&sd=tru 
 - GVCN các lớp chịu trách nhiệm tuyên truyền và lan tỏa lợi ích của việc ứng 
dụng chuyển đổi số đến HS và phụ huynh lớp mình chủ nhiệm. 
 c. Kết quả 
 18 Sang tới năm học 2022-2023, nhận thức và tầm nhìn của cán bộ quản lý và 
đội ngũ GVCN của trường Nguyễn Xuân Ôn về ứng dụng chuyển đổi số trong 
công tác chủ nhiệm đã có nhiều biến chuyển tích cực. Tư duy thay đổi thì hành 
động sẽ thay đổi theo, nhiều GVCN đã tích cực học hỏi để ứng dụng nhiều hơn 
CNTT vào các hoạt động giáo dục của lớp mình. Mỗi GVCN thay đổi sẽ lan tỏa sự 
đổi thay nhanh chóng đến HS và cả phụ huynh. 
 Hình ảnh GV trường THPT Nguyễn Xuân Ôn hào hứng tham gia tập huấn chuyển 
 đổi số online do Sở tổ chức và tập huấn trực tiếp tại trường. 
 d. Tính mới của giải pháp 
 Thay đổi nhận thức và tư duy cho GV là nhiệm vụ bước đầu rất quan trọng 
trong việc ứng dụng chuyển đổi số vào công tác chủ nhiệm. Khi tư duy và tầm nhìn 
thay đổi, GVCN sẽ có động lực mạnh mẽ và quyết tâm để thay đổi trong hành 
động, từ đó nhanh chóng lan tỏa tinh thần đổi mới đến đông đảo HS và phụ huynh. 
 3.2. Lựa chọn các ứng dụng CNTT phù hợp với các hoạt động giáo dục của 
công tác chủ nhiệm lớp và cơ sở vật chất hiện tại. 
 a. Mục tiêu 
 - Lựa chọn và đề xuất một số ứng dụng CNTT có thể áp dụng vào từng hoạt 
động giáo dục cụ thể của công tác chủ nhiệm lớp. 
 - Giúp các GVCN tham khảo và chủ động lựa chọn các phần mềm phù hợp 
để công tác chủ nhiệm trở nên “ nhàn” hơn, đơn giản hơn, chính xác hơn, hấp dẫn 
hơn và có sự cập nhật nhanh chóng hơn. 
 b. Cách thực hiện: Theo dòng các hoạt động giáo dục của GVCN để đề xuất 
phần mềm hoặc ứng dụng CNTT tương ứng. 
 b1. Hoạt động lấy ý kiến khảo sát học sinh 
 - Phần mềm đề xuất: Google Form. 
 - Phân tích ưu điểm: Nếu như trước đây muốn lấy ý kiến học sinh, GVCN 
phải làm phiếu, phát rồi thu lại để tổng hợp. HS khi nhận phiếu dễ bị tác động của 
nhân tố xung quanh dẫn đến các ý kiến nhiều khi chưa thực sự đúng như suy nghĩ 
 19 thật. Nhờ việc sử dụng ứng dụng này, học sinh có thể đưa ra nhận xét của mình ở 
bất kì đâu, miễn là các bạn học sinh được cung cấp đường link. 
 GVCN có thể nhanh chóng thu thập được các thông tin phản hồi của HS một 
cách hệ thống mà không phải tổ chức họp lớp. Các số liệu thống kê thu được giúp 
GVCN dễ dàng phân tích tổng hợp thông tin cần thiết. 
 Các ý kiến của học sinh có thể nhanh chóng chuyển tới các đối tượng mà 
GVCN đưa ra: giáo viên bộ môn, phụ huynh học sinh, học sinh trong lớp, ban 
giám hiệu một cách khách quan. 
 - Thời gian áp dụng: đầu kì, giữa kì và cuối kì. 
 - Các mảng có thể áp dụng: 
 + lấy thông tin sơ yếu lý lịch 
 + đánh giá ưu điểm và hạn chế của các bạn trong lớp nhằm giúp GVCN có 
thông tin đa dạng để đánh giá hạnh kiểm chính xác hơn. 
 + góp ý việc giảng dạy của giáo viên bộ môn 
 + góp ý việc quản lý của giáo viên chủ nhiệm 
 + lấy ý kiến góp ý với cha mẹ học sinh 
 + góp ý các hoạt động trong và ngoài lớp. 
 b2. Theo dõi và xếp loại hạnh kiểm cuối tuần, cuối tháng, cuối kì, cuối năm. 
 - Phần mềm đề xuất: EXCEL. 
 - Phân tích ưu điểm: Nếu như trước đây để xếp loại học sinh ở các mặt khác 
nhau, giáo viên chủ nhiệm dựa nhiều vào cảm tính của bản thân, học sinh sẽ ít có 
căn cứ để đối chiếu. Nhờ việc lưu trữ thông tin, GVCN có thể đưa ra các con số chi 
tiết, hợp lí, công khai cùng với nhận xét đánh giá của nhiều bộ phận khác nhau, 
giáo viên chủ nhiệm dễ dàng đưa ra bảng xếp loại mà tất cả học sinh đều có thể đối 
chiếu chính xác. 
 - Thời gian áp dụng: hàng tuần, hàng tháng, theo đợt. 
 - Các mảng có thể áp dụng: 
 + Thi đua hàng tháng 
 + Lựa chọn học sinh tiêu biểu tháng, kì, đợt cao điểm 
 + Xếp loại hạnh kiểm, học lực 
 + Xếp loại hoạt động phong trào trong và ngoài lớp 
 + Xếp loại hoạt động học tập bộ môn 
 + So sánh, đối chiếu kết quả giữa các đợt thi, giữa kì, học kì. 
 20 

File đính kèm:

  • pdfskkn_ung_dung_chuyen_doi_so_trong_cong_tac_chu_nhiem_lop_o_t.pdf