SKKN Một số giải pháp chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị ở Trường THPT Hà Huy Tập

Nhận thức rõ chuyển đổi số là xu thế tất yếu, là con đường đưa Việt Nam phát triển mạnh mẽ, ngày 03/6/2020 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 nhằm phát triển Việt Nam thành một quốc gia số với mục tiêu liên quan chặt chẽ với nhau: một Chính phủ số, một nền kinh tế số và một xã hội số trong đó, giáo dục là lĩnh vực được ưu tiên chuyển đổi số. Thủ tướng Chính phủ cũng đã đã ký Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt Đề án "Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030". Đề án khắng định “tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số tạo đột phá trong đổi mới hoạt động giáo dục và đào tạo, đổi mới quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tác động tích cực, toàn diện tới phương thức hoạt động, chất lượng, hiệu quả và công bằng trong giáo dục”.

Trong thời gian vừa qua, đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp trên toàn thế giới đã gây ra nhiều khó khăn trong việc học tập của học sinh, giảng dạy của giáo viên. Với phương châm: “Dừng đến trường nhưng không dừng việc học”, các nhà trường, các thầy, cô giáo cùng học trò đã nỗ lực biến khó khăn thành cơ hội, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, triển khai dạy học thích ứng an toàn với đại dịch Covid-19, đáp ứng mục tiêu chương trình, kế hoạch công tác của năm học. Thực tiễn trên cho thấy chuyển đổi số trong giáo dục là việc hết sức cấp thiết, trong trước mắt cũng như lâu dài.

Tại trường THPT Hà Huy Tập chuyển đổi số đã giúp nhà trường triền khai dạy học, các hoạt động của trường bằng hình thức trực tuyến, trực tiếp kết hợp trực tuyến. Tuy nhiên, đối với trường THPT Hà Huy Tập nói riêng và các nhà trường nói chung, công tác chuyển đối số trong nhà trường còn là vấn đề mới, còn nhiều khó khăn về nhận thức, tư duy, năng lực, văn hóa số, về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, về việc kết nối, chia sẻ dữ liệu, về thể chế, hệ thống văn bản quản lý điều hành, về tài chính. Từ thực tế trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Một số giải pháp chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị trường THPT ở trường THPT Hà Huy Tập”

docx 23 trang Giang Thanh 28/11/2025 2340
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số giải pháp chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị ở Trường THPT Hà Huy Tập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số giải pháp chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị ở Trường THPT Hà Huy Tập

SKKN Một số giải pháp chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị ở Trường THPT Hà Huy Tập
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
 TRƯỜNG THPT HÀ HUY TẬP
 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHUYỂN ĐỔI SỐ 
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC 
 QUẢN TRỊ TRƯỜNG THPT 
 Ở TRƯỜNG THPT HÀ HUY TẬP
 NĂM HỌC 2021-2022 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
 TRƯỜNG THPT HÀ HUY TẬP
 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHUYỂN ĐỔI SỐ 
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC 
 QUẢN TRỊ TRƯỜNG THPT 
 Ở TRƯỜNG THPT HÀ HUY TẬP
 LĨNH VỰC: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
 Tác giả: Trần Nghĩa Công
 Trần Cao Cường
 Điện thoại: 0913.054727
 0915.051338
 NĂM HỌC 2021-2022 PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
 Nhận thức rõ chuyển đổi số là xu thế tất yếu, là con đường đưa Việt Nam phát triển 
mạnh mẽ, ngày 03/6/2020 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê 
duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 nhằm 
phát triển Việt Nam thành một quốc gia số với mục tiêu liên quan chặt chẽ với nhau: một 
Chính phủ số, một nền kinh tế số và một xã hội số trong đó, giáo dục là lĩnh vực được ưu tiên 
chuyển đổi số. Thủ tướng Chính phủ cũng đã đã ký Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 
25/01/2022 phê duyệt Đề án "Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số 
trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030". Đề án khắng định 
“tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số tạo đột phá trong đổi mới hoạt 
động giáo dục và đào tạo, đổi mới quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tác 
động tích cực, toàn diện tới phương thức hoạt động, chất lượng, hiệu quả và công bằng trong 
giáo dục”.
 Trong thời gian vừa qua, đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp trên toàn thế giới đã 
gây ra nhiều khó khăn trong việc học tập của học sinh, giảng dạy của giáo viên. Với phương 
châm: “Dừng đến trường nhưng không dừng việc học”, các nhà trường, các thầy, cô giáo cùng 
học trò đã nỗ lực biến khó khăn thành cơ hội, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, triển khai dạy 
học thích ứng an toàn với đại dịch Covid-19, đáp ứng mục tiêu chương trình, kế hoạch công tác 
của năm học. Thực tiễn trên cho thấy chuyển đổi số trong giáo dục là việc hết sức cấp thiết, 
trong trước mắt cũng như lâu dài.
 Tại trường THPT Hà Huy Tập chuyển đổi số đã giúp nhà trường triền khai dạy học, các 
hoạt động của trường bằng hình thức trực tuyến, trực tiếp kết hợp trực tuyến. Tuy nhiên, đối 
với trường THPT Hà Huy Tập nói riêng và các nhà trường nói chung, công tác chuyển đối số 
trong nhà trường còn là vấn đề mới, còn nhiều khó khăn về nhận thức, tư duy, năng lực, văn 
hóa số, về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, về việc kết nối, chia sẻ dữ liệu, về thể chế, hệ thống 
văn bản quản lý điều hành, về tài chính.
 Từ thực tế trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Một số giải pháp chuyển đổi số nhằm nâng 
cao hiệu quả công tác quản trị trường THPT ở trường THPT Hà Huy Tập”
II. Đối tượng nghiên cứu
 Các giải pháp chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị trường THPT ở 
trường THPT Hà Huy Tập
III. Phương pháp nghiên cứu
 - Phương pháp nghiên cứu lí luận
 - Phương pháp khảo sát thực tiễn
 - Phương pháp phân tích, tổng hợp
 - Phương pháp đối chiếu so sánh
 3 IV. Cấu trúc của đề tài
 - Phần một: Đặt vấn đề
 - Phần hai: Nội dung
 - Phần ba: Kết luận
V. Đóng góp của đề tài:
 - Đề tài đã phân tích, hệ thống hóa cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và đề 
xuất một số giải pháp chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị trường THPT 
ở trường THPT Hà Huy Tập.
 - Các giải pháp đề xuất trong đề tài được triển khai, áp dụng tại trường THPT Hà Huy 
Tập qua đó đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản trị trường THPT, hiệu quả công tác 
quản lý, nâng cao chất lượng dạy học thích ứng an toàn, linh hoạt và kiểm soát hiệu quả dịch 
Covid-19, góp phần giúp nhà trường hoàn thành tốt kế hoạch giáo dục năm học. 
 - Các giải pháp của đề tài có thể áp dụng để triển khai tại các trường THPT trong tỉnh. 
 4 PHẦN II: NỘI DUNG
I. Cơ sở khoa học
1. Cơ sở lí luận
1.1. Khái niệm về chuyển đổi số trong quản trị nhà trường
1.1.1. Khái niệm chuyển đổi số
 - Tùy vào từng lĩnh vực được ứng dụng mà thuật ngữ chuyển đổi số có một cách tiếp 
cận khác nhau. Thuật ngữ thường dùng về chuyển đổi số có thể hiểu là sự tích hợp các công 
nghệ kỹ thuật số vào tất cả các lĩnh vực của một doanh nghiệp, tận dụng các công nghệ để thay 
đổi căn bản cách thức vận hành, mô hình kinh doanh và cung cấp các giá trị mới cho khách 
hàng của doanh nghiệp đó cũng như tăng tốc các hoạt động kinh doanh. 
 - Tại Việt Nam, khái niệm “Chuyển đổi số” thường được hiểu theo nghĩa là quá trình 
thay đổi từ mô hình doanh nghiệp truyền thống sang doanh nghiệp số bằng cách áp dụng công 
nghệ mới như dữ liệu lớn (Big Data), Internet cho vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud) 
nhằm thay đổi phương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc, văn hóa công ty. 
 - Thuật ngữ Chuyển đổi số thường dễ bị nhầm lẫn với khái niệm “Số hóa”. Số hóa có 
thể hiểu là quá trình hiện đại hóa, chuyển đổi các hệ thống thường sang hệ thống kỹ thuật số 
(chẳng hạn như chuyển từ tài liệu dạng giấy sang các file mềm trên máy tính, số hóa truyền 
hình chuyển từ phát sóng analog sang phát sóng kỹ thuật số...); trong khi đó, “Chuyển đổi số” 
là khai thác các dữ liệu có được từ quá trình số hóa, rồi áp dụng các công nghệ để phân tích, 
biến đổi các dữ liệu đó và tạo ra các giá trị mới hơn. “Số hóa” như một phần của quá trình 
“Chuyển đổi số”.
 - Khi ngành giáo dục trở nên cạnh tranh hơn, chuyển đổi số đang trở thành một xu hướng 
tất yếu vì thế giới số mới đòi hỏi các nhà giáo dục phải thích nghi và áp dụng các công nghệ, 
phương pháp và tư duy kỹ thuật số. Theo Hồ Tú Bảo, 2020 chuyển đổi số trong giáo dục đơn 
giản là chuyển đổi hoạt động dạy lên môi trường số bởi cốt lõi của giáo dục là dạy và học.
 - “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” 
được phê duyệt tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ, 
chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục: “Phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng 
triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; 
xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực 
tuyến. Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa. 100% các cơ sở 
giáo dục triển khai công tác dạy và học từ xa, trong đó thử nghiệm chương trình đào tạo cho 
phép học sinh, sinh viên học trực tuyến tối thiểu 20% nội dung chương trình. Ứng dụng công 
nghệ số để giao bài tập về nhà và kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh trước khi đến lớp học”.
 Như vậy việc chuyển đổi số trong Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) tập trung vào hai nội 
dung chính: Chuyển đổi số trong quản lý và chuyển đổi số trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá.
 5 Chuyển đổi số trong quản lý là số hóa thông tin quản lý, tạo ra những hệ thống cơ sở dữ 
liệu lớn liên thông, triển khai các dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng các công nghệ 4.0 (AI, 
blockchain, phân tích dữ liệu, ..) để quản lý, điều hành, dự báo, hỗ trợ các cấp lãnh đạo, quản 
lý ra quyết định trong lãnh đạo, điều hành.
 Chuyển đổi số trong dạy, học và kiểm tra, đánh giá là số hóa học liệu (sách giáo khoa 
điện tử, bài giảng điện tử, kho bài giảng e-learning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm), thư viện 
số, phòng thí nghiệm ảo, triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến ; chuyển đổi toàn bộ cách 
thức, phương pháp giảng dạy, kỹ thuật quản lý lớp học, tương tác với người học sang không 
gian số, khai thác công nghệ thông tin để tổ chức giảng dạy thành công.
 - Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và 
đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030” được phê duyệt tại Quyết định số 
131/QĐ-TTg ngày 25/1/2022 của Thủ tướng Chính phủ, xác định mục tiêu chung: Tận dụng 
tiến bộ công nghệ để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong dạy và học, nâng cao chất lượng và cơ 
hội tiếp cận giáo dục, hiệu quả quản lý giáo dục; xây dựng nền giáo dục mở thích ứng trên nền 
tảng số, góp phần phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
1.1.2. Khái niệm quản trị nhà trường
 - Theo Trần Khánh Đức, 2019 thì quản trị của một tổ chức là “quá trình điều hành tổ 
chức bằng phương thức hoạch định các hoạt động; huy động, cung ứng đầy đủ, kịp thời và có 
chất lượng các nguồn lực (nhân lực, tài lực và vật lực), các phương tiện và điều kiện tất yếu 
cho mọi hoạt động của tổ chức để tổ chức vận hành đạt được hiệu quả các mục tiêu đã định 
trong môi trường luôn luôn biến động và với phạm vi nguồn lực huy động được”.
 - Trong Thông tư 14/2018/TT-BGD&ĐT ban hành Chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục 
phổ thông, quản trị nhà trường là “quá trình xây dựng các định hướng, quy định, kế hoạch 
hoạt động trong nhà trường; tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục học sinh thông qua huy 
động, sử dụng các nguồn lực, giám sát, đánh giá trên cơ sở tự chủ, có trách nhiệm giải trình 
để phát triển nhà trường theo sứ mạng, tầm nhìn và mục tiêu giáo dục của nhà trường” 
(BGD&ĐT, 2018).
1.1.3. Chuyển đổi số trong quản trị nhà trường
 Chuyến đổi số trong quản trị nhà trường là quá trình thay đổi từ mô hình quản trị nhà 
trường mang tính truyền thống sang mô hình quản trị số bằng cách thay đổi phương thức điều 
hành, lãnh đạo, quy trình làm việc, văn hóa nhà trường từ việc áp dụng công nghệ mới như 
dữ liệu lớn (Big Data), Internet cho vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud) nhằm nâng 
cao hiệu quả quản lí nhà trường.
1.2. Vai trò chuyển đổi số trong quản trị nhà trường
 Đối với quản trị nhà trường, chuyển đổi số đem lại nhiều lợi ích như sau:
 Thứ nhất, đối với hoạt động dạy học và quản lí hoạt động dạy học: Tăng tính tương tác, 
tính thực hành - ứng dụng: ứng dụng thực tế ảo (Virtual Reality - VR), thực tế tăng cường 
 6 (Augmented Reality - AR) trong giáo dục để tạo dựng các phòng thí nghiệm ảo, mô hình thực 
tế ảo có khả năng tương tác với người dùng, giúp cho người học có những trải nghiệm đa 
giác quan, dễ hiểu, dễ nhớ và gây hứng thú cho người học, (Mai Ngọc Tuấn, 2020). Tạo 
không gian và thời gian học linh động, thúc đẩy giáo dục mở - bình đẳng - cá thể hóa: việc 
học tập trực tuyến, các khóa học đào tạo từ xa tạo điều kiện cho người học có nhiều lựa chọn 
trong học tập, nghiên cứu mọi lúc, mọi nơi, tiếp cận thông tin đa chiều, thu hẹp mọi không 
gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian, từ đó phát triển bản thân. Hơn nữa, chuyển đổi số cũng giúp 
nhà quản lí xem xét, đánh giá một cách hệ thống từ việc chuẩn bị đến tiến hành và có thể dõi 
theo quá trình tổ chức dạy học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học. 
 Thứ hai, việc triển khai dạy học, giáo dục trực tuyến dựa trên học liệu số hệ thống, khả 
thi giúp các cơ sở giáo dục cắt giảm được chi phí đáng kể về cơ sở vật chất, chi phí giảng dạy 
và chuyên gia; người học tiết kiệm học phí, chi phí sinh hoạt và tài liệu học tập. Khi nhà quản 
lí đầu tư tập trung vào số hóa hồ sơ dạy học, giáo dục; tăng cường học liệu số và lưu trữ minh 
chứng có liên quan theo yêu cầu số hóa; tương tác với các bên có liên quan thông qua tài liệu 
số hóa, có thể nâng cao hiệu quả dạy học, giáo dục. Việc áp dụng các nền tảng số trong giáo 
dục tạo ra các cơ hội để: i) kết nối hạ tầng trong mọi lĩnh vực, mọi khâu của quá trình giáo dục 
và đào tạo; ii) tăng khả năng tương tác và sự linh hoạt cho người học trong không gian và thời 
gian thực - ảo, môi trường học tập thực - ảo (Physical-cyber environment interaction) dựa trên 
nền tảng số.
 Thứ ba, nâng cao hiệu quả quản trị thông qua một số thành tựu CNTT, chuyển đổi số 
góp phần quan trọng trong việc vận hành các hoạt động của nhà trường, tiêu biểu như: IoT 
(Internet vạn vật) giúp nâng cao hiệu quả quản trị, giám sát trong các cơ sở giáo dục, theo dõi 
hành vi của người học và số hóa những dữ liệu ấy một cách hệ thống, xử lí nhanh và phản hồi 
để có thể đảm bảo điều khiển hoạt động của nhà trường tích cực hơn. Công nghệ Big data (dữ 
liệu lớn) giúp phân tích hành vi học tập của người học để có hỗ trợ, tư vấn phù hợp trong đó 
việc số hóa các dữ liệu là yêu cầu cần thiết và mang tính dài lâu, dõi theo người học. Hoặc AI 
(trí tuệ nhân tạo) giúp xây dựng những ứng dụng hỗ trợ nhà quản trị trong việc giám sát, kiểm 
tra, đánh giá và đưa ra quyết định trên nhiều lĩnh vực quản trị được số hóa bài bản, hệ thống.
1.3. Nội dung chuyển đổi số trong quản trị nhà trường
 Chuyển đổi số trong QTNT tập trung vào hai nội dung chủ yếu: chuyển đổi số trong 
quản trị nhà trường trên bình diện chung và chuyển đổi số trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá, 
nghiên cứu khoa học.
 Chuyển đổi số trong quản trị nhà trường nói chung bao gồm: số hóa thông tin quản lí, 
tạo ra những hệ thống cơ sở dữ liệu lớn liên thông, triển khai các dịch vụ công trực tuyến, ứng 
dụng các Công nghệ 4.0 (AI, blockchain, phân tích dữ liệu,...) để quản lí, điều hành, dự báo, 
hỗ trợ ra quyết định trong ngành GD&ĐT một cách nhanh chóng, chính xác. Từ những dữ liệu 
được số hóa có thể quản lí hệ thống, tra cứu, truy cập, đối sánh và phân tích, đánh giá, có thể 
 7 biến chúng thành cơ sở để khai thác trong việc quản lí hành chánh, quản lí nhân sự; quản lí tài 
chính; quản lí các nội dung theo yêu cầu nhất là quản lí theo tính hệ thống, theo nhóm nội dung 
– mục tiêu. Trong tiến trình phát triển của các cơ sở giáo dục phổ thông, việc số hóa dữ liệu là 
căn cứ để đảm bảo thực hiện các yêu cầu của kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục, góp phần 
tham gia tích cực các bảng đánh giá, xếp hạng cơ sở giáo dục theo định hướng phát triển một 
cách hữu hiệu.
 Chuyển đổi số trong dạy học, giáo dục của nhà trường thể hiện rõ ở việc số hóa học liệu 
(sách giáo khoa điện tử, bài giảng điện tử, kho bài giảng e-learning, ngân hàng câu hỏi trắc 
nghiệm), số hóa các hồ sơ có liên quan trong giáo dục học sinh: phiếu đánh giá, nhận xét; bản 
kiểm phát triển cũng như số hóa để hướng đến thư viện số, phòng thí nghiệm ảo, triển khai 
hệ thống dạy học, giáo dục trực tuyến, xây dựng các trường học ảo theo lộ trình phát triển và 
định hướng dài lâu (cyber school). Nếu được thực thi với các cơ sở khoa học, chuyển đổi số 
trong giáo dục sẽ đạt hiệu quả đáng ghi nhận cũng như đóng góp dấu ấn quan trọng vào học 
tập suốt đời. Khi nhà quản lí định hướng việc số hóa này, triển khai thành kế hoạch chiến lược 
với lộ trình và chỉ tiêu, hành động cụ thể, quyết tâm việc số hóa trong dạy học, giáo dục và 
trong QTNT nói chung sẽ khởi sắc và đạt kết quả mong đợi.
 Các nội dung cụ thể ứng dụng chuyền đổi số trong quan trị nhà trường là:
 + Trong tổ chức xây dựng kế hoạch phát triển nhà trường
 + Trong quản trị hoạt động dạy học, giáo dục học sinh
 + Trong quản trị nhân sự nhà trường
 + Trong quản trị tổ chức, hành chính nhà trường
 + Trong quản trị tài chính nhà trường
 + Trong quản trị cơ sở vật chất, thiết bị và công nghệ trong dạy học, giáo dục học sinh 
của nhà trường
 + Trong quản trị chất lượng giáo dục trong nhà trường
 + Trong xây dựng hình ảnh, quản trị thương hiệu nhà trường
2. Cơ sở pháp lý
 Khi ứng dụng chuyển đổi số trong nhà trường, người quản lí cũng cần đảm bảo các quy 
định pháp lí liên quan, cụ thể là các quy định pháp lí về chuyển đổi số, quy định về sở hữu trí 
tuệ, bản quyền của các thiết bị, phần mềm được sử dụng và một số quy định khác có liên quan 
trong dạy học, giáo dục. 
 Một là, việc ứng dụng chuyển đổi số phải căn cứ vào quan điểm chỉ đạo, đường lối 
chính sách của Đảng và Nhà nước đối với GD&ĐT, về chuyển đổi số: Nghị quyết số 29-
NQ/TW ngày 04 /11/2013, của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi 
mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo; Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của 
Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 
2019 - 2020, định hướng đến 2025; Quyết định Số: 749/QĐ-TTg ngày 03/06/2020 của Thủ 
 8 tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng 
đến năm 2030”; Quyết định Số: 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê 
duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và 
đào tạo giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến năm 2030”
 Hai là, việc ứng dụng ứng dụng chuyển đổi số trong QTNT phải đảm bảo các căn cứ 
pháp lí liên quan đến giáo dục, giáo dục phổ thông như: Luật Giáo dục số 43/2019 được Quốc 
hội ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2019; Thông tư số 32/2020/TT-BGDĐT ngày 15/9/2020 
của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông 
có nhiều cấp học Các văn bản pháp lí này nêu rõ mục đích, nguyên tắc, nội dung giáo dục; 
quyền, nghĩa vụ của các lực lượng liên quan trong và ngoài trường, đặc biệt, quy định rõ việc 
đầu tư, sử dụng cơ sở vật chất, phương tiện thiết bị trong QTNT. Vì vậy, việc ứng dụng chuyển 
đổi số trong nhà trường không được thực hiện sai lệch các văn bản pháp lí này.
 Ba là, việc ứng dụng ứng dụng chuyển đổi số phải thực hiện dựa trên các văn bản, chỉ 
đạo, hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ GD&ĐT về về chuyển đổi số, chuyển 
đổi số trong trường học như: Quyết định 2374/QĐ-BTTTT ngày 30/12/2020 của Bộ Thông 
tin và Truyền thông về phê duyệt “Kế hoạch chuyển đổi số của Bộ Thông tin và Truyền thông 
giai đoạn 2021 - 2025”; công văn số 797/BTTTT-THH ngày 06/03/32022 của Bộ Thông tin 
và Truyền thông về việc hướng dẫn một số nhiệm vụ quan trọng thúc đẩy triển khai chuyển 
đổi số năm 2022; Thông tư số 42/2021/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Bộ trưởng 
Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về cơ sở dữ liệu giáo dục và đào tạo; Thông tư số 
09/2021/TT-BGDĐT ngày 30/3/2021 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về quản 
lý và tổ chức dạy học trực tuyến trong cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường 
xuyên; 
 Bốn là, khi ứng dựng chuyển đổi số vào QTNT, CBQL cần tuyên truyền, phổ biến cũng 
như thiết lập các quy định liên quan đến văn hóa đạo đức số và sử dụng, giao tiếp qua Internet 
cho cán bộ, giáo viên và học sinh trong nhà trường. Đảm bảo an toàn an ninh thông tin, nhân 
lực sử dụng CNTT, quản lí và chỉ đạo điều hành; an toàn thông tin với các hệ thống CNTT 
(phần cứng, phần mềm, website...). Thường xuyên rà soát, khắc phục các nguy cơ mất an toàn, 
an ninh thông tin khi dùng phần mềm trực tuyến và thiết bị cá nhân. Cần tuân thủ các quy tắc 
như tôn trọng, tuân thủ pháp luật: Tuân thủ luật pháp Việt Nam, tôn trọng quyền và lợi ích hợp 
pháp của tổ chức, cá nhân; quy tắc lành mạnh: Hành vi, ứng xử trên mạng xã hội phù hợp với 
các giá trị đạo đức, văn hóa truyền thông tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; quy tắc an toàn, bảo 
mật thông tin (Quốc hội, 2018).
 Năm là, CBQL cần quan tâm đến vấn đề bản quyền và quyền sử dụng hợp pháp thiết bị, 
phần mềm trong giáo dục. Luật bản quyền và Luật Sở hữu trí tuệ đã được ban hành, vì vậy 
CBQL cần nghiên cứu và nắm rõ các văn bản này. Cần tuân thủ các yêu cầu ở Luật quốc tế về 
bản quyền được đăng ký tại Berne (Thụy Sĩ) năm 1886. Theo đó, quyền tác giả là hiển nhiên, 
 9 không cần công bố hay đăng ký mà hưởng tác quyền suốt đời, cộng thêm tối thiểu 50 năm khi 
qua đời. Với Luật Việt Nam về bản quyền thì Quyền tác giả được quy định chi tiết trong luật 
sở hữu trí tuệ, bộ Luật Dân sự 2005 và nghị định 100/NĐ*CP/2006 của Chính phủ quy định 
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ Luật Dân sự, Luật Sở hữu Trí tuệ về quyền 
tác giả. Riêng về vấn đề bản quyền phần mềm thì phần mềm hay chương trình máy tính được 
bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy. Vi phạm 
bản quyền là việc nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt qua mạng 
truyền thông và các phương tiện kĩ thuật hoặc sử dụng chúng mà không trả phí hoặc sự đồng 
ý của chủ phần mềm (điều 28, Luật Sở hữu Trí tuệ 2005).
 Sáu là, nguồn học liệu số, thiết bị công nghệ, công cụ phần mềm tiện ích cũng phải tuân 
thủ tính chuẩn mực, hợp pháp và tránh những xung đột lợi ích. Cụ thể, với nguồn học liệu số, 
CBQL cần phải đảm bảo kiểm tra học liệu số phải tuân thủ các quy định của pháp luật về sở 
hữu trí tuệ và bản quyền tác giả song song với các yêu cầu về sở hữu khai thác, nhân bản. Đối 
với thiết bị công nghệ và các công cụ phần mềm tiện ích cần đảm bảo khai thác hợp pháp, 
tuân thủ các quy định về tính sở hữu một cách nghiêm túc. Trong bối cảnh hiện nay, các cơ sở 
giáo dục cần tiến hành lên kế hoạch và triển khai ứng dụng phần mềm tự do mã nguồn mở cho 
hệ thống máy tính của đơn vị (gồm máy chủ và máy trạm), cho các phần mềm ứng dụng và hệ 
điều hành sao cho vừa sức, khả thi.
 Bảy là, vấn đề bảo vệ dữ liệu và an toàn thông tin cũng cần tuân thủ hiệu quả. Bởi an 
toàn thông tin là sự bảo vệ thông tin và các hệ thống thông tin, tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết 
lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và 
tính khả dụng của thông tin. Theo đó, an ninh thông tin là việc bảo đảm thông tin trên mạng 
không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp 
của tổ chức, cá nhân. Bảo mật là việc bảo vệ những thứ có giá trị. Trong đó, bảo mật thông tin 
là liên quan đến lưu trữ và xử lí thông tin, bảo mật thông tin gồm các vấn đề pháp lí: hệ thống 
chính sách, quy định, yếu tố con người; quản lí, nhận thức; và vấn đề kỹ thuật gồm kỹ thuật 
mật mã, bảo mật mạng, Khi ứng dụng chuyển đổi số trong trường học và trong quản trị, cần 
đảm bảo an toàn an ninh thông tin với các hệ thống CNTT (phần cứng, phần mềm, wesbite...). 
Thường xuyên rà soát, khắc phục các nguy cơ mất an toàn, an ninh thông tin khi dùng phần 
mềm trực tuyến và thiết bị cá nhân: điện thoại thông minh, máy tính, máy tính bảng... một 
cách cẩn trọng
3. Cơ sở thực tiễn
2.1. Thực tiễn công tác chuyển đổi số trong ngành giáo dục đào tạo hiện nay 
 Ngày 03/6/2020 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê 
duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 nhằm 
phát triển Việt Nam thành một quốc gia số với mục tiêu liên quan chặt chẽ với nhau: một 
Chính phủ số, một nền kinh tế số và một xã hội số trong đó, giáo dục là lĩnh vực được ưu tiên 
 10 chuyển đổi số. Thủ tướng Chính phủ cũng đã đã ký Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 
25/01/2022 phê duyệt Đề án "Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số 
trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030". Hàng loạt chính 
sách thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục được ban hành, dần hoàn thiện hành lang pháp lý như 
Thông tư số 42/2021/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và 
Đào tạo quy định về cơ sở dữ liệu giáo dục và đào tạo; Thông tư số 09/2021/TT-BGDĐT ngày 
30/3/2021 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về quản lý và tổ chức dạy học trực 
tuyến trong cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên và nhiều văn bản chỉ 
đạo điều hành khác.
 Trong quản lý giáo dục, toàn ngành đã triển khai số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng 
chung từ Trung ương đến 63 sở GDĐT, 710 phòng GDĐT và khoảng 53.000 cơ sở giáo dục. 
Hiện nay đã số hóa và định danh dữ liệu của khoảng 53.000 trường học, 1,4 triệu giáo viên, 
23 triệu học sinh. Cơ sở dữ liệu này vừa qua đã hỗ trợ đắc lực công tác tuyển sinh và thống kê, 
báo cáo trong toàn ngành; giúp các cấp quản lý ban hành chính sách quản lý có hiệu quả, vừa 
qua đã góp phần giải quyết vấn đề thừa thiếu giáo viên ở các nhà trường theo từng địa phương, 
môn học. Khối phổ thông khoảng 82% các trường sử dụng phần mềm quản lý trường học, sổ 
điểm điện tử, học bạ điện tử và hầu hết các cơ sở giáo dục đại học đều sử dụng phần mềm 
quản trị nhà trường. Hệ thống quản lý hành chính điện tử kết nối 63 sở GDĐT và hơn 300 
trường đại học, cao đẳng trên cả nước với Bộ GDĐT hoạt động thông suốt, ổn định, phát huy 
hiệu quả tích cực.
 Về học liệu số, giáo viên toàn ngành được huy động tham gia, đóng góp chia sẻ học 
liệu vào kho học liệu số toàn ngành; đóng góp lên Hệ tri thức Việt số hóa gần 5.000 bài giảng 
điện tử e-learning có chất lượng, kho luận văn tiến sĩ với gần 7.000 luận văn, ngân hàng câu 
hỏi trắc nghiệm với trên 31.000 câu hỏi góp phần xây dựng xã hội học tập và đẩy mạnh học 
tập suốt đời.
 Về dạy và học: Do ảnh hưởng của dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, ngành Giáo dục 
và đào tạo ở nước ta đã có nhiều đổi mới, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cải thiện 
cơ sở vật chất, thiết bị dạy học; thay đổi, điều chỉnh các hoạt động dạy học, tổ chức dạy học 
trực tuyến, dạy học trực tiếp kết hợp trực tuyến góp phần phát triển năng lực sử dụng công 
nghệ thông tin và truyền thông trong dạy-học, thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục và đào 
tạo; mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho học sinh, tạo điều kiện để trẻ em, học sinh, sinh 
viên được học ở mọi nơi, mọi lúc và bảo đảm công tác phòng, chống dịch, thích ứng với tình 
hình của dịch COVID-19; đồng thời thực hiện tốt phương châm “tạm dừng đến trường, không 
dừng học” đáp ứng mục tiêu chương trình, kế hoạch công tác của năm học.
 Về nhân lực số, ở bậc phổ thông, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới, môn 
Tin học sẽ được đưa vào giảng dạy bắt buộc ngay từ lớp 3; giáo dục STEM được lồng ghép 
trong các môn học, gắn việc học của học sinh thông qua các hoạt động ứng dụng công nghệ 
 11 để giải quyết các bài toán và hiện tượng trong cuộc sống. Trong giáo dục đại học, triển khai 
cơ chế đặc thù đào tạo nhân lực CNTT, qua đó giúp các cơ sở đào tạo gia tăng cơ hội hợp tác 
với doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế để huy động các nguồn lực của xã hội tham gia vào quá 
trình đào tạo nhân lực CNTT, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực ở các doanh nghiệp 
và nhu cầu của xã hội.
 Tuy vậy, chuyển đổi số ngành giáo dục đào tạo hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, 
tồn tại cần tiếp tục được khắc phục, hoàn thiện cụ thể như sau:
 - Hạ tầng mạng, trang thiết bị CNTT (như máy tính, camera, máy in, máy quyét), đường 
truyền, dịch vụ Internet cho nhà trường, giáo viên, học sinh - đặc biệt ở các vùng xa, vùng khó 
khăn – còn thiếu, lạc hậu, chưa đồng bộ, nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu cho chuyển đổi số 
(cả về quản lý giáo dục và dạy - học). Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự bất bình đẳng 
về cơ hội học tập, tiếp cận kiến thức giữa học sinh sinh viên ở các vùng miền, các nhà trường.
 - Số hóa, xây dựng, cập nhật học liệu số, thẩm định, chia sẻ học liệu số đòi hỏi sự đầu 
tư lớn về nhân lực (gồm cả nhân lực quản lý và nhân lực triển khai) cũng như tài chính để đảm 
bảo kho học liệu số đầy đủ, đạt chất lượng, đáp ứng yêu cầu học tập, nghiên cứu, tham khảo 
của học sinh sinh viên ở các cấp học, ngành học, môn học. Vì vậy hiện nay vấn đề xây dựng 
học liệu số (như sách điện tử, thư viện điện tử, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, bài giảng điện 
tử, phần mềm học điện tử, phần mềm ứng dụng mô phỏng) còn phát triển tự phát, chưa đi vào 
nề nếp và thành hệ thống, khó kiểm soát chất lượng và nội dung học tập. Kéo theo đó là hệ 
thống giải pháp học tập VLE/LMS có tính tương tác cao (khác với các hệ thống họp trực tuyến) 
cũng triển khai tự phát, thiếu sự đồng bộ và chia sẻ giữa các nhà trường dẫn đến lãng phí 
chung.
 - Thu thập, chia sẻ, khai thác dữ liệu quản lý giáo dục và học liệu số cần hành lang pháp 
lý chung phù hợp với các quy định về bản quyền tác giả, sở hữu trí tuệ, an ninh thông tin, giao 
dịch điện tử và luật chia sẻ cung cấp thông tin, cụ thể như: Quy định danh mục các thông tin 
thuộc diện bắt buộc khai báo, nhập liệu, phân biệt với thông tin cá nhân riêng tư thuộc quyền 
cá nhân; quy định quyền tác giả cho các bài giảng điện tử (trường hợp nào được sử dụng, điều 
kiện gì, sử dụng toàn bộ hay một phần); quy định khai thác cơ sở dữ liệu, kho học liệu số 
(những ai được quyền khai thác, khai thác gì, mức độ đến đâu, điều kiện gì, ai thẩm định, ai 
cho phép); quy định tính pháp lý của hồ sơ điện tử nói chung và sổ điểm, học bạ điện tử nói 
riêng (đặc biệt trong trường hợp chuyển cấp, chuyển trường ở phạm vi toàn quốc). Chỉ khi các 
nút thắt này được tháo gỡ mới thúc đẩy phát triển được hệ thống dữ liệu số, học liệu số đủ lớn 
(gồm cả dữ liệu mở), đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia nói chung và giáo dục đào tạo 
nói riêng. Hiện tượng cục bộ về dữ liệu còn tồn tại ở không ít các địa phương, nhà trường.
 - Trên cơ sở quy định pháp lý chung ở trên, cần hoàn thiện quy định chuyên ngành giáo 
dục, cụ thể như: Quy định chương trình học trực tuyến, thời lượng học, kiểm tra đánh giá trực 
tuyến, kiểm định chất lượng học trực tuyến, công nhận kết quả học trực tuyến (khác với học 
 12 truyền thống); quy định điều kiện tổ chức lớp học, trường học trên môi trường mạng (kể cả 
ngắn hạn và dài hạn).
 - Người học và nhà giáo là trung tâm của quá trình chuyển đổi số chính vì vậy cần có 
sự thay đổi nhận thức mạnh mẽ, sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp quản lý, sự chủ động, tích 
cực của các cơ sở giáo dục và sự ủng hộ, tham gia của mỗi người học, mỗi nhà giáo và toàn 
xã hội.
 Mục tiêu chuyển đổi số trong giáo dục đào tạo trong thời gian sắp tới: Đề án "Tăng 
cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 
2022-2025, định hướng đến năm 2030" xác định mục tiêu cụ thể của Đề án đến năm 2025: 
 - Đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức giáo dục, đưa dạy và học trên môi trường số 
trở thành hoạt động giáo dục thiết yếu, hàng ngày đối với mỗi nhà giáo, mỗi người học
 - Đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý, điều hành dựa trên công nghệ và dữ liệu, nâng 
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và chất lượng cung cấp dịch vụ hỗ trợ của Nhà nước và các cơ 
sở giáo dục
 + Về quản trị nhà trường: 100% cơ sở giáo dục áp dụng hệ thống quản trị nhà trường 
dựa trên dữ liệu và công nghệ số, trong đó: 100% người học, 100% nhà giáo được quản lý 
bằng hồ sơ số với định danh thống nhất toàn quốc; 80% cơ sở vật chất, thiết bị và các nguồn 
lực khác phục vụ giáo dục, đào tạo và nghiên cứu được quản lý bằng hồ sơ số.
 + Về quản lý giáo dục: Hệ thống thông tin quản lý toàn ngành giáo dục được thiết lập 
và vận hành hiệu quả, trong đó: Cơ sở dữ liệu toàn ngành được hoàn thiện, kết nối thông suốt 
với tất cả các cơ sở giáo dục đảm bảo cung cấp thông tin quản lý đầy đủ, tin cậy và kịp thời; 
được kết nối và chia sẻ hiệu quả với các cơ sở dữ liệu quốc gia; Các cơ quan quản lý giáo dục 
từ trung ương tới các địa phương được vận hành chủ yếu dựa trên dữ liệu và công nghệ số, 
trong đó 90% hồ sơ công việc tại cấp bộ, cấp sở; 80% hồ sơ công việc tại cấp phòng được giao 
dịch và giải quyết trên môi trường số (không bao gồm hồ sơ xử lý công việc có nội dung mật).
 + Về dịch vụ hỗ trợ người học, người dân, 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện được 
triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 (hoặc mức độ 3 nếu không phát sinh thanh toán); 
Tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến mức độ 3 và 4 trên tổng số hồ sơ đạt tối thiểu 50%; Tỷ lệ 
người học, phụ huynh hài lòng về chất lượng dịch vụ trực tuyến của các cơ sở giáo dục đạt 
trung bình 80%; Tỷ lệ tổ chức, cá nhân hài lòng về chất lượng dịch vụ công trực tuyến của các 
cơ quan quản lý giáo dục đạt trung bình 80%.
2.2. Thực trạng công tác chuyển đổi số trong quản trị trường THPT ở trường THPT Hà 
Huy Tập:
 - Nhận thức của một số cán bộ, giáo viên, học sinh, phụ huynh về dạy học trực tuyến 
nói riêng và chuyển đổi số còn hạn chế. Trong trường học chuyển đổi số vẫn còn là khái niệm 
mới, chưa được hiểu thấu đáo, chưa thấy được vai trò vị trí quan trọng nên một số giáo viên 
còn ngại thay đổi, không đầu tư học tập nghiên cứu, áp dụng công nghệ vào quản lý, dạy học 
 13 giáo dục, dạy học trực tuyến..Một số học sinh còn đối phó trong trong học tập trực tuyến, kiểm 
tra đánh giá trực tuyến, không biết khai thác tài nguyên số để phục vụ học tập. Một số phụ 
huynh chưa tích cực ứng dụng công nghệ, đầu tư các trang thiết bị để tham gia phối hợp cùng 
giáo viên trong việc quản lý học tập, rèn luyện của học sinh trên lớp cũng như ở nhà một cách 
tốt hơn.
 - Để triển khai ứng dụng chuyển đổi số, nền tảng hạ tầng, cơ sở vật chất cơ bản đã được 
nhà trường trang bị như: 
 + 100% các lớp được trang bị ti vi, máy chiếu; 
 + 100% giáo viên có máy tính xách tay phục vụ dạy học; 
 + Có đủ máy tính phục vụ quản lý, điều hành được nối mạng Internet. 
 Tuy nhiên nền tảng hạ tầng, cơ sở vật chất còn có những tồn tại sau: Chưa có mạng 
Internet đến các phòng học, mạng wifi cung cấp Internet cho giáo viên, học sinh trong khuôn 
viên nhà trường; công tác đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trong các ứng dụng CNTT chuyển 
đổi số của nhà trường chưa được quan tâm; Hệ thống họp, hội nghị trực tuyến, các thiết bị, 
giải pháp dạy học trực tuyến, trực tiếp kết hợp trực tuyến chưa được đầu tư, triển khai đồng 
bộ, bài bản.
 - Về đội ngũ CBGV: Để đáp ứng dạy học thích ứng an toàn đại dịch Covid-19, CBGV 
nhà trường đã tích cực tự học nâng cao trình độ ứng dụng CNTT vào dạy học trực tuyến như 
sử dụng bảng điện tử, xây dựng bài giảng điện tử, bài giảng E-learning, khai thác các ứng dụng 
dạy học trực tuyến Zoom, Google meet, Microsof Team, các ứng dụng kiểm tra đánh giá trực 
tuyến, giao bài tập về nhà. Tuy nhiên, một số giáo viên kỹ năng ứng dụng CNTT còn hạn chế, 
việc khai thác sử dụng các ứng dụng vào dạy học còn chưa hiệu quả, chưa đầu tư đổi mới 
phương pháp dạy học, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao cho chuyển đổi số, chưa tổ chức 
đánh giá về kỹ năng ứng dụng chuyển đổi số của giáo viên để xây dựng chương trình bồi 
dưỡng phù hợp 
 - Một số nội dung ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị nhà trường được nhà trường 
triền khai như: Trong quản trị hoạt động dạy học, giáo dục học sinh (Xây dựng kế hoạch dạy 
học, thời khóa biểu, báo giảng điện tử, bài giảng điện tử, sổ điểm điện tử, học bạ điện tử, dạy 
học trực tuyến..), trong quản trị trị tổ chức, hành chính (hệ thống thư điện tử, website, văn bản 
điện tử, hệ thống quản lí hành chính điện tử (e-office), trong quản trị nhân sự nhà trường (phần 
mềm Pmis). Tuy nhiên nhiều nội dung ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị nhà trường chưa 
được triển khai hoặc triển khai chưa khoa học, đồng bộ, hiệu quả phù hợp thực tiễn nhà trường.
II. Một số giải pháp chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị trường 
THPT ở trường THPT Hà Huy Tập
1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, học sinh và phụ huynh về tầm quan trọng 
của công tác chuyển đổi số trong quản trị trường THPT
 14 Chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo cần có sự thay đổi nhận thức mạnh mẽ, sự chỉ 
đạo quyết liệt của các cấp quản lý, sự chủ động, tích cực của các cơ sở giáo dục và sự ủng hộ, 
tham gia của mỗi người học, mỗi nhà giáo và toàn xã hội. Chính vì vậy nhà trường đã triển 
khai tuyên truyền, phổ biến, quán triệt sâu rộng nhằm nâng cao nhận thức về chuyển đổi số 
trong giáo dục và đào tạo đến toàn thể đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, nhân viên, học sinh 
và phụ huynh, các tổ chức trong và ngoài nhà trường tập trung vào các nội dung như chương 
trình chuyển đổi số quốc gia, đề án chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo, kế hoạch chuyển 
đổi số của ngành, của trường, kế hoạch dạy học thích ứng an toàn với dịch Covid-19 bằng 
nhiều hình thức như: 
 - Đưa nội dung chuyển đổi số vào chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại 
hội chi bộ nhiệm kỳ 2020-2025; xây dựng kế hoạch chuyển đổi số của nhà trường; đưa giải 
pháp chuyển đổi số là một trong những giải pháp quan trọng trong kế hoạch giáo dục của nhà 
trường 
 - Xây dựng chuyên mục trên website, tăng cường số lượng tin, bài, chia sẻ các ký sự, 
phóng sự chuyên đề, các chương trình phỏng vấn, tọa đàm, các thông điệp truyền thông trên 
các báo chí. 
 - Tăng cường truyền thông trên các trang fanpage, nhóm Zalo, xây dựng các thông điệp, 
Inforgraphic tuyên truyền về các chương trình, kế hoạch Chuyển đổi số của ngành, của trường. 
Sưu tầm, biên tập, xây dựng các tài liệu về chuyển đổi số để tuyên truyền, cung cấp cho giáo 
viên, học sinh phụ huynh. 
 - Tổ chức các hội nghị chuyên đề, các buổi sinh hoạt ngoại khóa, chào cờ về chuyển đổi 
số, xây dựng các chương trình phát thanh về chuyển đổi số. 
 - Xây dựng, phát huy các mô hình chuyển đổi số đơn giản, có tính hiệu quả.
 - Tranh thủ các nguồn lực đầu tư cho chuyển đổi số.
 Với nhiều giải pháp đồng bộ, nhà trường đã từng bước nâng cao nhận thức về công tác 
chuyển đổi số, về dạy học thích ứng an toàn với dịch Covid-19 trong cán bộ giáo viên, học 
sinh và phụ huynh, tạo sự đồng thuận, sự quyết tâm triển khai các nhiệm vụ, các giải pháp 
chuyển đổi số trong nhà trường, các phương án dạy học thích ứng an toàn dịch Covid-19, từng 
bước thay đổi thói quen, tư duy trong quản lý, tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục, trong cách 
dạy, cách học.
 - Học sinh: thay đổi về cách học từ trực tiếp sang trực tuyến, học mội lúc, mọi nơi; thay 
đổi cách làm bài trên giấy sang làm bài trên máy tính, điện thoại; thay đổi cách tìm kiếm tài 
liệu qua báo chí, sách vở sang tìm kiếm thông tin tài liệu qua Internet hay các nhóm mạng xã 
hội; ...
 - Giáo viên: thay đổi từ cách dạy học trực tiếp sang dạy học trực tuyến; dạy học bằng 
phấn trắng bảng đen sang dạy học sử dụng thiết bị điện tử, bài giảng điện tử; thay đổi các loại 
hồ sơ sổ sách thông thường sang hồ sơ điện tử; ....
 15 - Cán bộ quản lý: thay đổi từ cách quản lý truyền thống sang các cách quản lý mới phù 
hợp với cách dạy học của giáo viên, học sinh.
 - Phụ huynh học sinh: yên tâm và phối hợp với nhà trường trong quản lý, giáo dục học 
sinh, triển khai kế hoạch dạy học thích ứng an toàn với dịch Covid-19, tạo điều kiện hỗ trợ về 
cơ sở vật chất trang thiết bị cho học sinh, cho lớp, cho trường.
2. Bảo đảm các điều kiện về hạ tầng, cơ sở vật chất và trang thiết bị triển khai ứng dụng 
CNTT và chuyển đổi số
 Một trong những nét nổi bật của trường THPT Hà Huy Tập đối với công tác chuyển đổi 
số là xây dựng các điều kiện về hạ tầng, cơ sở vật chất và trang thiết bị triển khai ứng dụng 
CNTT và chuyển đổi số. 
 - Về mạng viễn thông, đường truyền Internet được nhà trường kết hợp với Công ty 
VNPT Nghệ An lắp đặt hệ thống đường cáp quang cấp riêng cho trường, nhà trường và các 
tập thể lớp đầu tư lắp đặt đảm bảo tất cả các phòng làm việc, các phòng học đều có đường 
truyền Internet tốc độ cao đảm bảo giáo viên và tất cả học sinh trong lớp đều có thể sử dụng 
Internet tại phòng học để giảng dạy, tìm kiếm tài liệu, làm bài kiểm tra, ...
 - Mỗi phòng học được trang bị máy chiếu hoặc tivi thông minh kích thước lớn có kết 
nối Internet thuận lợi cho việc dạy và học.
 - Trường có 2 tivi cảm ứng, được sử dụng thường xuyên cho các cuộc hội họp, trình 
diễn.
 - Nhà trường đầu tư 1 máy photocopy hiện đại, có nhiều tính năng và hỗ trợ quét bài thi 
trắc nghiệm cho học sinh giúp cho việc chấm các bài thi trắc nghiệm được nhanh chóng.
 - Trường có 2 phòng học tiếng với 80 ca bin kết nối với máy tính của giáo viên chuyên 
dụng để học Ngoại ngữ; có 3 phòng thực hành vi tính với hơn 80 máy vi tính dành cho học 
sinh. 
 - Trường có 01 phòng học STEM được trường Đại học Vinuni hỗ trợ về đào tạo nhân 
lực, tài liệu, trang thiết bị.
 Như vậy, với giải pháp đảm bảo cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin sẽ giúp cho cán bộ 
giáo viên, nhân viên trong nhà trường có đầy đủ điều kiện để thực hiện các hoạt động chuyển 
đổi số trong công việc của mình.
3. Trang bị kỹ năng chuyển đổi số cho giáo viên và học sinh
 Học sinh và giáo viên là trung tâm của quá trình chuyển đổi số, lợi ích mang lại cho học 
sinh, giáo viên và người dân là thước đo chủ yếu đánh giá mức độ thành công của chuyển đổi 
số. Từ nhận thức và quyết tâm ứng dụng chuyển đổi số nhằm nâng cao chất lượng giáo dục 
trong nhà trường, tập thể lãnh đạo nhà trường đã xúc tiến các giải pháp trang bị kỹ năng chuyển 
đổi số cho giáo viên và học sinh của trường.
 - Kỹ năng xây dựng dữ liệu số của giáo viên: Thông qua triển khai tập huấn sử dụng các 
phần mềm như soạn giáo án điện tử, soạn giáo án E-learning, quản lý nhà trường vnEdu, đảo 
 16 đề kiểm tra trắc nghiệm, tổ chức thi trực tuyến, ... tất cả giáo viên của nhà trường đã từng bước 
có các kỹ năng cơ bản để chuyển đổi các công việc hàng ngày.
 - Nhà trường đã chú trọng phát triển năng lực sử dụng các thiết bị kĩ thuật số cho học 
sinh, học sinh sử dụng được các phần mềm chủ yếu như Microsoft Word, Microsoft Excel, 
Microsoft PowerPoint, Google Drive và một số phần mềm đặc trưng tùy môn học (Ví dụ: Môn 
Toán sử dụng phần mềm Mathtype, quanda ). Trong thời gian học trực tuyến, học sinh được 
nhà trường tập huấn và hỗ trợ sử dụng các phần mềm LMS VNPT, K12online, Zoom, Google 
Meet, MicroSoft Teams, để tham gia học tập trực tuyến.
 - Học sinh chủ yếu sử dụng các thiết bị số thông dụng như: Smartphone, TV, Projector, 
Ipad, PC/laptop. Về TV và Projector sẵn có trên lớp học thường xuyên.
 Với các kiến thức được nhà trường tập huấn và tự học, giáo viên nhà trường đã thay đổi 
được nhiều hoạt động của mình theo hướng chuyển đổi số, như:
 - Thực hiện Lịch báo giảng điện tử thay thế cho lịch báo giảng giấy: Giáo viên có thể 
lên lịch báo giảng nhanh chóng, thuận lợi; cán bộ quản lý có thể xem, xử lý thông tin lịch báo 
giảng của giáo viên trên hệ thống.
 - Tổ chức lưu trữ giáo án của giáo viên trên mạng với sự kiểm tra hàng tuần của nhóm 
trưởng chuyên môn và BGH trường.
 - Thực hiện sổ đầu bài điện tử, sổ điểm điện tử, học bạ điện tử với các quy định chặt chẽ 
của Sở Giáo dục và của nhà trường.
 - Thực hiện soạn và giảng dạy các bài giảng điện tử PowerPoint, video, ... kết hợp với 
bảng, phấn truyền thống.
 - Tổ chức được giảng dạy trực tuyến cho học sinh qua nhiều nền tảng công nghệ như 
qua hệ thống LMS của VNPT, qua phần mềm Zoom, phần mềm Google Meet, Microsoft 
Teams.
 - Tổ chức làm đề và kiểm tra trực tuyến cho học sinh qua nhiều công cụ như: LMS, 
Azota, Shub, tracnghiemonline, ... thuận lợi cho quá trình đánh giá chất lượng của học sinh.
 - Sử dụng các trang mạng xã hội để tương tác với phụ huynh học sinh cũng như xây 
dựng các Câu lạc bộ bộ môn. Điển hình như Câu lạc bộ Toán học của nhà trường được xây 
dựng trên nhóm Facebook thu hút được hơn 3100 người theo dõi là các học sinh trong và ngoài 
nhà trường, hoạt động thường xuyên với các bộ đề, bài kiểm tra chất lượng.
 - Tổ chức Câu lạc bộ Stem Robotics cấp trường thu hút đông đảo học sinh tham gia qua 
đó tạo sân chơi trí tuệ, sáng tạo và bổ ích cho học sinh, tạo cơ hội cho các em được tham gia 
các hoạt động có tính khoa học, hiện đại, rèn luyện tư duy máy tính, kỹ năng lập trình, tư duy 
logic, tư duy phản biện, khả năng tập trung, năng lực sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm và giải 
quyết vấn đề, khuyến khích tinh thần học hỏi, khám phá để từng bước làm chủ Khoa học. CLB 
Stem Robotics đã tổ chức các buổi sinh hoạt cho các em hoc sinh, tổ chức chương trình ngày 
 17 hội STEM cấp trường, thực hiện dự án tham gia ngày hội STEM toàn quốc do trường đại học 
Vinuni tổ chức.
4. Xây dựng các cơ sở dữ liệu giáo dục của nhà trường
 Cùng với kế hoạch của Sở Giáo dục và đào tạo Nghệ An, chúng tôi đã tiến hành xây 
dựng các cơ sở dữ liệu giáo dục của nhà trường, như:
 - CSDL ngành trên hệ thống truong.csdl.moet.gov.vn, định danh cụ thể cho cán bộ giáo 
viên và học sinh toàn trường.
 - CSDL quản lý nhà trường trên hệ thống vnEdu.vn
 - CSDL quản lý nhân sự trên hệ thống PMIS
 - CSDL quản lý tài chính trên hệ thống kế toán MISA
 Bên cạnh đó, nhà trường xây dựng cho mình các cơ sở dữ liệu khác như:
 - Hệ thống ngân hàng đề thi trắc nghiệm: Các nhóm chuyên môn xây dựng và thẩm định 
hệ thống ngân hàng đề thi trắc nghiệm của các khối lớp theo các nội dung của chương trình 
và các cấp độ. Ban Khảo thí của nhà trường sẽ kết xuất đề kiểm tra đình kỳ dựa trên hệ thống 
ngân hàng đề này và ma trận đề của nhóm chuyên môn.
 - Hệ thống dữ liệu Phòng truyền thống của nhà trường: Số hóa các hình ảnh của phòng 
truyền thống hiện tại để xây dựng hệ thống Phòng truyền thống trực tuyến của nhà trường.
 - Hệ thống học liệu điện tử: Nhà trường động viên giáo viên tham gia xây dựng học liệu 
điện tử do Bộ Giáo dục, Sở Giáo dục khởi xướng như các cuộc thi bài giảng Elearning (có 34 
giáo viên tham gia), dạy học trên truyền hình (có 4 giáo viên tham gia), đưa học liệu lên diễn 
đàn trường học kết nối (có 15 giáo viên tham gia), cùng với đó là soạn bài, chia sẻ bài giảng 
điện tử với 100% giáo viên của nhà trường tham gia và giảng dạy trên hệ thống LMS cũng 
như các nền tảng khác.
5. Ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị hoạt động dạy học, giáo dục:
5.1. Quản trị nhân sự:
 Nhà trường rà soát các thông tin của giáo viên một cách thường xuyên, cập nhật lên hệ 
thống quản lý nhân sự PMIS kịp thời; đồng thời tự xây dựng cho mình cách thức khai thác các 
dữ liệu này một cách hiệu quả:
 - Luôn có thống kê chất lượng đội ngũ: trình độ đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, 
nghiệp vụ, ... để kịp thời có kế hoạch nâng cao chất lượng nhân sự của nhà trường như: Bố trí 
tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, lý luận chính trị, ... giới thiệu với Sở Giáo 
dục các nhân tố cốt cán, chuyên môn tốt từ đội ngũ.
 - Thống kê chất lượng về kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo viên trong 
các năm học: kết quả chất lượng các kỳ thi, kiểm tra chung của học sinh mà giáo viên phụ 
trách giảng dạy có tham chiếu với các giáo viên khác trong nhóm chuyên môn, trong trường, 
... qua đó giúp chuyên môn nhà trường xếp được vị thứ chất lượng giáo viên trong các nhóm 
 18 chuyên môn, bố trí được lực lượng nòng cốt trong công tác đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi, 
ôn luyện học sinh khối 12.
5.2. Quản trị tài chính nhà trường
 Nhà trường đã bố trí bộ phận tài vụ, kế toán của nhà trường thực hiện các chủ trương về 
quản lý tài chính trong đó đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin cào công việc:
 - Sử dụng phần mềm quản lý kế toán MISA để thực hiện nghiệp vụ kế toán.
 - Sử dụng hóa đơn điện tử trong các giao dịch.
 - Sử dụng các thanh toán với ngân hàng, kho bạc bằng các hồ sơ thanh toán điện tử.
 - Triển khai thanh toán không dùng tiền mặt đối với các khoản thu từ phụ huynh học 
sinh: Nhà trường đã phối hợp với ngân hàng BIDV, Viettel Nghệ An và VNPT Nghệ An tập 
huấn cho phụ huynh và học sinh của nhà trường sử dụng các nền tảng của ngân hàng, Viettel 
Pay, vnEdu để thực hiện các khoản thu như học phí, tài trợ giáo dục, ... có kết nối với phần 
mềm quản lý kế toán MISA giúp cho nhà trường dễ dàng có các số liệu. Năm học 2021-2022, 
nhà trường đã có thể đánh giá thi đua các lớp về triển khai các khoản thu không sử dụng tiền 
mặt.
5.3. Quản trị cơ sở vật chất, thiết bị và công nghệ trong dạy học, giáo dục học sinh của nhà 
trường
 Thể hiện rõ nét nhất về chuyển đổi số của nhà trường trong công tác quản trị các hoạt 
động này là số hóa được các dữ liệu về cơ sở vật chất, thiết bị trong nhà trường. Các thiết bị 
được đánh mã số định danh, sử dụng phần mềm quản lý để truy xuất nguồn gốc mua sắm, bảo 
hành, khấu hao, sửa chữa, ... và người sử dụng. Trong các đợt kiểm kê cơ sở vật chất, các số 
liệu kiểm tra được đối chiếu nhanh chóng, chính xác.
 Bên cạnh đó nhà trường còn ứng dụng vào các hoạt động quản lý học sinh như điểm 
danh điện tử; số hóa biển số xe của học sinh để dễ dàng tra cứu học sinh vi phạm ATGT; liên 
lạc bằng SMS với phụ huynh qua phần mềm vnEdu hoặc Smas, nhóm Zalo, facebook, ...
 Trong đợt dịch Covid-19, học sinh không thể đến trường nhưng nhà trường đã triển khai 
nhiều giải pháp công nghệ để học sinh không dừng việc học. Chuyển đối số thể hiện qua việc 
chuyển đổi mô hình dạy học trực tiếp sang dạy học trực tuyến và dạy học kết hợp cả hai mô 
hình. Ngay từ khi bắt đầu có biểu hiện dịch, nhà trường đã tiến hành tập huấn cho giáo viên 
và học sinh sử dụng mô hình dạy học trực tuyến qua Zoom, kết hợp với VNPT xây dựng mô 
hình dạy học qua LMS. Kết quả, trong 3 năm qua giáo viên và học sinh nhà trường đã thành 
thạo việc dạy học trực tuyến, sử dụng được nhiều nền tảng công nghệ để học, kiểm tra, đánh 
giá trực tuyến.
5.4. Quản trị chất lượng giáo dục trong nhà trường
 Để quản lý tốt chất lượng giáo dục trong nhà trường cần làm tốt công tác đảm bảo chất 
lượng, thường xuyên có các số liệu phản ánh chính xác, khoa học về chất lượng của các học 
sinh trong nhà trường, trên cơ sở đó điều chỉnh kế hoạch, giải pháp phù hợp. 
 19 Định kỳ, nhà trường có các bài kiểm tra đối với các lớp và sau khi có kết quả chúng tôi 
tiến hành thống kê điểm số của các học sinh theo nhiều phương diện để đánh giá chất lượng 
giảng dạy và học tập:
 - Đánh giá về chất lượng đề thi thông qua phổ điểm; các câu hỏi khó và số lượng học 
sinh làm được nó, ... để nhóm chuyên môn rút kinh nghiệm.
 - Đánh giá về chất lượng học sinh: thông qua các thống kê về điểm trung bình, phương 
sai của số liệu thi, nhà trường có các đánh giá về chất lượng học sinh ở các bộ môn của các 
lớp; từ đó có các điều chỉnh về giảng dạy, quản lý tăng cường đảm bảo chất lượng tốt hơn.
 - Đánh giá về chất lượng giáo viên: thông qua các số liệu thống kê điểm thi để ghi nhận, 
biểu dương các giáo viên có sự vươn lên trong giảng dạy, đồng thời có các nhắc nhở đối với 
giáo viên chưa thực hiện hiệu quả.
 - Đối chiếu các kết quả thi, kiểm tra với chuẩn đầu ra mà nhà trường đã xây dựng và 
cam kết để có các điều chỉnh kịp thời, phấn đấu đạt các tiêu chí đã đề ra.
 Bên cạnh đó, Nhà trường phối hợp với Đoàn trường và GVCN thường xuyên tổ chức 
cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội (các hoạt động tình nguyện, định hướng nghề 
nghiệp ) thông qua các công nghệ số như: tham gia các cuộc thi tìm hiểu do các tổ chức Đoàn 
hoặc do nhà trường triển khai trên môi trường Internet.
 Thực hiện việc sử dụng, quản lý hồ sơ chuyên môn điện tử, hồ sơ giáo viên, công đoàn 
sử dụng Phiếu báo giảng điện tử, Sổ điểm điện tử, Học bạ điện tử, Sổ đăng bộ điện tử và Giáo 
án điện tử.
 - Sử dụng sổ liên lạc điện tử để trao đổi thông tin với phụ huynh trong việc quản lý, 
giáo dục học sinh.
 - Khai thác hiệu quả hệ thống quản lý học tập (LMS) và cấp tài khoản cho tất cả giáo 
viên, cán bộ quản lý để thực hiện các nội dung tập huấn, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý 
cốt cán và đại trà triển khai Chương trình GDPT 2018 và tổ chức thực hiện các chương trình 
thường xuyên theo quy định của Bộ GDĐT. Triển khai thực hiện có hiệu quả phương thức bồi 
dưỡng thường xuyên, liên tục, qua mạng, ngay tại trường, với sự giám sát, kiểm tra, hỗ trợ của 
đội ngũ giáo viên cốt cán, cán bộ quản lý cốt cán.
 - Chỉ đạo cán bộ phụ trách CNTT của trường và các GVCN kịp thời nhập số liệu vào 
hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý ngành theo đúng tiến độ, đảm bảo tính chính xác của số liệu; 
khai thác, sử dụng thống nhất dữ liệu toàn ngành về trường, lớp, học sinh, giáo viên, trường 
chuẩn quốc gia và các thông tin khác trong quản lý và báo cáo.
 -Nhiều bộ môn đã chú trọng phát triển NLS thông qua các hoạt động cộng tác qua các 
phần mềm như: kahoot, quick, quanda, Google Drive, Microsoft PowerPoint, Canva để hợp 
tác thực hiện các nhiệm vụ học tập.
5.5. Xây dựng hình ảnh, quản trị thương hiệu nhà trường
 20

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_giai_phap_chuyen_doi_so_nham_nang_cao_hieu_qua_c.docx