SKKN Phát triển năng lực số cho học sinh THPT trong dạy học địa lí theo hướng chuyển đổi số tại Trường THPT Lê Viết Thuật

Quá trình hội nhập quốc tế ở nước ta đã tạo ra những cơ hội đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó có giáo dục. Khoa học công nghệ phát triển đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, tư duy sáng tạo và có khả năng giải quyết các vấn đề trong thực tiễn….Để nguồn lao động hiện tại và tương lai đáp ứng được những yêu cầu mới thì ngành giáo dục cần được nâng cao hơn nữa chất lượng. Nghị quyết số 29 - NQ/TW đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo “…Chuyển mạnh từ quá trình giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành, lí luận gắn với thực tiễn,…”, đặc biệt là vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và phát triển năng lực số cho học sinh (HS).

Việc ứng dụng CNTT vào dạy học trong những năm gần đây đã dần thay đổi phương pháp dạy học từ truyền thống sang tích cực, giúp người dạy và người học phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo, chủ động và đạt hiệu quả cao trong dạy học. Từ mô hình lớp học tập trung dần chuyển sang các mô hình dạy học trực tuyến, sử dụng công nghệ thông tin - truyền thông (CNTT-TT) để hỗ trợ các hoạt động giảng dạy, học tập. Qua đó, người học có thể tiếp cận tri thức mọi nơi, mọi lúc, có thể chủ động trong việc học tập và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn. Sự bùng nổ về công nghệ giáo dục đã, đang và sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền giáo dục mang tính chuyển đổi sâu sắc vì con người. Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 749/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” trong đó giáo dục là lĩnh vực được ưu tiên chuyển đổi số thứ 2 sau lĩnh vực Y tế.

Trước bối cảnh đó và để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông, cần thiết phải đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực người học, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển năng lực số ở tất cả các bộ môn, trong đó có môn Địa lí. Đây là tiền đề vô cùng quan trọng để chúng ta tiến tới việc việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của người học. Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng như việc đi dự giờ đồng nghiệp tôi thấy rằng sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, năng lực của HS…chưa nhiều. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức. Việc rèn luyện kỹ năng tự học, sáng tạo, giải quyết tình huống trong thực tiễn…chưa thật sự đạt hiệu quả cao. Việc ứng dụng CNTT-TT trong dạy học còn nhiều hạn chế từ cả giáo viên (GV) và HS.

pdf 76 trang Giang Thanh 28/11/2025 2320
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Phát triển năng lực số cho học sinh THPT trong dạy học địa lí theo hướng chuyển đổi số tại Trường THPT Lê Viết Thuật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Phát triển năng lực số cho học sinh THPT trong dạy học địa lí theo hướng chuyển đổi số tại Trường THPT Lê Viết Thuật

SKKN Phát triển năng lực số cho học sinh THPT trong dạy học địa lí theo hướng chuyển đổi số tại Trường THPT Lê Viết Thuật
 SỞ GD & ĐT NGHỆ AN 
 ---------------------------- 
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
 ĐỀ TÀI: 
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO HỌC SINH THPT TRONG 
 DẠY HỌC ĐỊA LÍ THEO HƯỚNG CHUYỂN ĐỔI SỐ 
 MÔN: ĐỊA LÍ 
 NĂM HỌC: 2021 – 2022 
 SỞ GD & ĐT NGHỆ AN 
TRƯỜNG THPT HUỲNH THÚC KHÁNG - THPT LÊ VIẾT THUẬT 
 ------ 
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
 ĐỀ TÀI: 
 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO HỌC SINH THPT TRONG 
 DẠY HỌC ĐỊA LÍ THEO HƯỚNG CHUYỂN ĐỔI SỐ 
 Môn: Địa lí 
 Tác giả: 
 1. Nguyễn Thị Yến 
 2. Nguyễn Thị Mai Linh 
 3. Nguyễn Thị Tố Hoài 
 Tổ: Xã hội 
 Điện thoại: 0982.520.468 
 NĂM HỌC: 2021 – 2022 
 MỤC LỤC 
 Trang 
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1 
1. Lí do chọn đề tài. ............................................................................................... 1 
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. ...................................................................... 2 
2.1. Mục đích. .......................................................................................................... 2 
2.2. Nhiệm vụ. ......................................................................................................... 2 
3. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu. ................................................. 2 
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu........................................................................ 2 
3.2. Thời gian nghiên cứu ....................................................................................... 3 
4. Phương pháp nghiên cứu. ................................................................................. 3 
5. Những đóng góp mới của đề tài. ...................................................................... 3 
PHẦN NỘI DUNG ................................................................................................ 4 
1. Cơ sở lí luận. .................................................................................................. 4 
1.1. Khái niệm năng lực số. ..................................................................................... 4 
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng phát triển năng lực số cho học sinh. .......................... 4 
1.3. Các khung năng lực số cho học sinh. ............................................................... 5 
2. Cơ sở thực tiễn. .................................................................................................. 8 
2.1. Thực trạng dạy học và nhu cầu ứng dụng ICT trong dạy học hiện nay. .......... 8 
2.2. Tính cấp thiết của việc thực hiện chuyển đổi số trong dạy học ở giai đoạn 
hiện nay. ................................................................................................................ 12 
3. Các giải pháp tổ chức dạy học theo hướng chuyển đổi số nhằm phát triển 
năng lực số cho học sinh. .................................................................................... 13 
3.1. Xây dựng kế hoạch phát triển năng lực số cho học sinh tại trường THPT 
Huỳnh Thúc Kháng và THPT Lê Viết Thuật. ....................................................... 13 
3.2. Xác định các địa chỉ tích hợp phát triển năng lực số và kĩ năng chuyển đổi 
số trong chương trình Địa lí lớp 11 và lớp 12. ..................................................... 21 
3.3. Giáo án minh họa dạy học theo hướng chuyển đổi số nhằm phát triển năng 
lực số cho học sinh. .............................................................................................. 40 
4. Thực nghiệm sư phạm. ................................................................................... 48 
4.1. Mục đích thức nghiệm sư phạm. .................................................................... 48 
4.2. Đối tượng và nhiệm vụ thực nghiệm sự phạm. .............................................. 48 
4.3. Nội dung thực nghiệm sư phạm. .................................................................... 49 
4.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm. ....................................................................... 49 
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 55 
1. Một số kết luận. ............................................................................................... 55 
2. Kiến nghị. ......................................................................................................... 55 
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 58 
PHỤ LỤC 
 MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT 
- CNTT: Công nghệ thông tin 
- CNTT-TT (ICT): Công nghệ thông tin - truyền thông 
- GV: Giáo viên 
- GDĐT: Giáo dục và đào tạo 
- HS: Học sinh 
- THPT: Trung học phổ thông 
 PHẦN MỞ ĐẦU 
1. Lí do chọn đề tài. 
 Quá trình hội nhập quốc tế ở nước ta đã tạo ra những cơ hội đồng thời cũng 
đặt ra nhiều thách thức đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó có giáo 
dục. Khoa học công nghệ phát triển đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về 
năng lực hành động, tư duy sáng tạo và có khả năng giải quyết các vấn đề trong 
thực tiễn .Để nguồn lao động hiện tại và tương lai đáp ứng được những yêu cầu 
mới thì ngành giáo dục cần được nâng cao hơn nữa chất lượng. Nghị quyết số 29 - 
NQ/TW đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo “ Chuyển mạnh từ quá trình giáo dục chủ 
yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. 
Học đi đôi với hành, lí luận gắn với thực tiễn, ”, đặc biệt là vấn đề ứng dụng 
công nghệ thông tin (CNTT) và phát triển năng lực số cho học sinh (HS). 
 Việc ứng dụng CNTT vào dạy học trong những năm gần đây đã dần thay đổi 
phương pháp dạy học từ truyền thống sang tích cực, giúp người dạy và người học 
phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo, chủ động và đạt hiệu quả cao trong dạy 
học. Từ mô hình lớp học tập trung dần chuyển sang các mô hình dạy học trực 
tuyến, sử dụng công nghệ thông tin - truyền thông (CNTT-TT) để hỗ trợ các hoạt 
động giảng dạy, học tập. Qua đó, người học có thể tiếp cận tri thức mọi nơi, mọi 
lúc, có thể chủ động trong việc học tập và ứng dụng kiến thực vào thực tiễn. Sự 
bùng nổ về công nghệ giáo dục đã, đang và sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của 
nền giáo dục mang tính chuyển đổi sâu sắc vì con người. Ngày 03/6/2020, Thủ 
tướng Chính phủ ký quyết định số 749/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chương trình 
Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” trong đó giáo 
dục là lĩnh vực được ưu tiên chuyển đổi số thứ 2 sau lĩnh vực Y tế. 
 Trước bối cảnh đó và để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình sách 
giáo khoa giáo dục phổ thông, cần thiết phải đổi mới đồng bộ phương pháp 
dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực người học, 
đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển năng lực số ở tất cả các bộ môn, trong đó 
có môn Địa lí. Đây là tiền đề vô cùng quan trọng để chúng ta tiến tới việc việc dạy 
học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của người học. 
Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng như việc đi dự giờ đồng nghiệp 
tôi thấy rằng sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính 
tích cực, năng lực của HS chưa nhiều. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức. 
Việc rèn luyện kỹ năng tự học, sáng tạo, giải quyết tình huống trong thực 
tiễn chưa thật sự đạt hiệu quả cao. Việc ứng dụng CNTT-TT trong dạy học còn 
nhiều hạn chế từ cả giáo viên (GV) và HS. 
 Chương trình Địa lí trung học phổ thông (THPT) không chỉ giúp HS nắm rõ 
đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của thế giới, khu vực, quốc gia trong đó 
có Việt Nam mà còn rèn luyện cho HS những kĩ năng hành động, ứng xử thích hợp 
với môi trường tự nhiên, xã hội, xác định được trách nhiệm và nghĩa vụ của bản 
 1 
 thân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Là một trong những môn 
học khoa học ứng dụng, đòi hỏi HS phải được phát triển toàn diện các năng lực 
trong đó có năng lực ứng dụng CNTT để đáp ứng yêu cầu mới hiện nay. Do vậy sử 
dụng các phương pháp dạy học gắn với việc ứng dụng CNTT-TT để giảng dạy các 
bài học, các chủ đề là rất thích hợp và cần thiết. 
 Với mong muốn góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Địa lí phù hợp 
với xu thế giáo dục hiện đại, đáp ứng mục tiêu hình thành và phát triển năng lực 
học sinh, chúng tôi đã tiến hành chọn đề tài: "Phát triển năng lực số cho học sinh 
Trung học phổ thông trong dạy học Địa lí theo hướng chuyển đổi số". 
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. 
2.1. Mục đích. 
 - Nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn về vấn đề chuyển đổi số và phát 
triển năng lực số cho HS. 
 - Xác định được địa chỉ tích hợp phát triển năng lực số và kĩ năng chuyển đổi 
số cho HS qua các bài học trong chương trình Địa lí lớp 11 và 12. 
 - Thiết kế dạy học các bài học minh họa trong chương trình Địa lí lớp 11 và 
lớp 12 theo hướng chuyển đổi số. 
 - Thực nghiệm sư phạm đánh giá hiệu quả về phát triển năng lực số cho HS 
thông qua việc tổ chức dạy học theo hướng chuyển đổi số cho HS Trường THPT 
Huỳnh Thúc Kháng và THPT Lê Viết Thuật, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. 
2.2. Nhiệm vụ. 
 - Phân tích thực trạng dạy học và nhu cầu ứng dụng ICT trong dạy học hiện 
nay. 
 - Phân tích được khả năng của HS và GV trong ứng dụng chuyển đổi số trong 
tổ chức dạy học nói chung và môn Địa lí nói riêng. 
 - Tổng quan những vấn đề lí luận về dạy học theo định hướng phát triển năng 
lực cho học sinh hiện nay. Từ đó vận dụng tổ chức dạy học theo hướng chuyển đổi 
số nhằm phát triển năng lực số cho HS lớp 11 và lớp 12. 
 - Xác định được địa chỉ tích hợp chuyển đổi số trong chương trình Địa lí lớp 
11 và lớp 12 nhằm phát triển năng lực số cho HS. 
3. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu. 
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 
 - Học sinh lớp 11, 12 học tập theo chương trình Địa lí THPT - Ban cơ bản. 
 - Học sinh lớp 11 năm học 2020-2021 và lớp 12 năm học 2021-2022 Trường 
THPT Huỳnh Thúc Kháng, THPT Lê Viết Thuật, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. 
3.2. Thời gian nghiên cứu: Từ năm học 2020-2021 và năm học 2021-2022. 
 2 
 4. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài đã sử dụng các phương pháp: 
 - Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu: Nguồn tài liệu được sử dụng có 
thể gồm các dạng: các văn bản Nghị định, Nghị quyết; các tài liệu tập huấn chuyên 
môn của Bộ giáo dục và đào tạo; các tài liệu, một số trang báo điện tử về giáo dục 
về ứng dụng phát triển năng lực số trong dạy học, sách giáo khoa Địa lí lớp 11 và 
12...nhằm thu thập thông tin, số liệu liên quan phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài. 
 - Phương pháp điều tra, khảo sát: Tiến hành khảo sát GV và HS lớp 11 khi bắt 
đầu nghiên cứu về thực trạng, nhu cầu ứng dụng ICT và cũng đối tượng đó khi học 
lớp 12 về hiệu quả của việc ứng dụng ICT trong dạy học môn Địa lí để xây dựng 
kế hoạch dạy học theo hướng chuyển đổi số nhằm phát huy năng lực số cho HS. 
Đây là cơ sở quan trọng để rút ra kết luận về tính hiệu quả của đề tài nghiên cứu. 
 - Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: Trên cơ sở những số liệu đã thu 
thập, phân tích, tổng hợp, so sánh các số liệu phục vụ mục đích nghiên cứu thực 
trạng ứng dụng chuyển đổi số để từ đó áp dụng hiệu quả vào việc xác định địa chỉ 
lồng ghép chuyển đổi số trong chương trình Địa lí lớp 11, 12. Sản phẩm của việc 
xử lý này được phân tích, tổng hợp hay hệ thống hóa bằng bảng số liệu, biểu đồ... 
 - Phương pháp quan sát: Trong quá trình thực hiện đề tài, GV trực tiếp quan 
sát quá trình HS học tập tại lớp để tìm hiểu thái độ, hứng thú, tính tích cực, kĩ năng 
giải quyết vấn đề của HS để từ đó rút ra được ưu khuyết điểm mà phương pháp 
đang áp dụng, trên cơ sở đó điều chỉnh để đạt được kết quả như đề tài mong muốn. 
 - Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Để khẳng định kết quả của đề tài chúng 
tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm ở một số lớp. Ở các lớp thực nghiệm chúng tôi 
tiến hành dạy học theo phương pháp hướng đến phát triển năng lực số cho HS, từ 
đó khẳng định tính hiệu quả của đề tài. 
5. Những đóng góp mới của đề tài. 
 - Xây dựng được địa chỉ tích hợp chuyển đổi số và kĩ năng chuyển đổi số cho 
HS qua các bài học trong chương trình Địa lí 11 và 12, vận dụng qui trình vào thực 
tế dạy học để đánh giá được hiệu quả đề tài. 
 - Phân tích thực trạng việc dạy học và nhu cầu ứng dụng ICT trong dạy học 
hiện nay, cũng như phân tích được khả năng của HS và GV trong ứng dụng chuyển 
đổi số trong tổ chức dạy học nói chung và môn Địa lí. 
 - Xây dựng kế hoạch phát triển năng lực số cho HS của trường THPT Huỳnh 
Thúc Kháng và THPT Lê Viết Thuật phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà 
trường, cũng như khả năng về ICT của GV và HS. 
 - Tổ chức dạy học theo hướng chuyển đổi số nhằm phát triển năng lực số cho 
HS THPT thông qua chương trình Địa lí lớp 11 và 12 góp phần đổi mới phương 
pháp dạy học, đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông tổng thể theo định 
hướng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, chú trọng phát triển phẩm chất và năng 
lực người học. 
 3 
 PHẦN NỘI DUNG 
1. Cơ sở lí luận. 
1.1. Khái niệm năng lực số. 
 Đã có nhiều khái niệm được sử dụng khi đề cập đến phát triển năng lực số ở 
các quốc gia và tổ chức quốc tế. Mỗi khái niệm mang một nghĩa riêng để phù 
hợp với mục tiêu cụ thể của các nước, các tổ chức. Tuy nhiên, chúng đều hướng đến 
một mục tiêu chung là phát triển các kĩ năng tìm kiếm, đánh giá, quản lý được 
thông tin; giao tiếp, hợp tác, giải quyết các vấn đề an toàn, hiệu quả. Từ đó giúp 
mọi người có thể thành công trên môi trường số. 
 Theo UNESCO (2018), khái niệm năng lực công nghệ số là: khả năng tiếp 
cận, quản lý, hiểu, tích hợp, giao tiếp, đánh giá và tạo thông tin một cách an toàn 
và hợp lý thông qua công nghệ kỹ thuật số phục vụ cho việc làm và lập nghiệp. 
Năng lực công nghệ số bao gồm các năng lực khác nhau liên quan đến kĩ năng 
CNTT-TT, kiến thức thông tin và truyền thông. 
 Năm 2018, Ủy ban Châu Âu sử dụng khái niệm năng lực số: “Năng lực số 
liên quan đến việc sử dụng cũng như tham gia vào công nghệ số một cách tự tin, 
chủ động và có trách nhiệm phục vụ cho học tập, làm việc và tham gia vào xã 
hội. Năng lực số gồm có kiến thức về thông tin và số liệu, truyền thông và hợp 
tác, kiến thức truyền thông, tạo nội dung số (bao gồm cả lập trình), an toàn (bao 
gồm cả lợi ích và năng lực số liên quan đến an ninh mạng) và các vấn đề liên 
quan đến sở hữu trí tuệ, giải quyết vấn đề và tư duy phản biện”. 
 Như vậy chúng ta có thể hiểu: Năng lực số (Digital Literacy) đề cập đến kiến 
thức, kỹ năng và thái độ cho phép HS phát triển và phát huy tối đa khả năng trong 
thế giới công nghệ số ngày càng lớn mạnh trên phạm vi toàn cầu, một thế giới mà 
HS vừa được an toàn, vừa được trao quyền theo cách phù hợp với lứa tuổi cũng 
như phù hợp với văn hóa và bối cảnh địa phương. Từ đó sẽ nâng cao được năng 
lực học tập đáp ứng được yêu cầu trong bối cảnh hội nhập hiện nay. 
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng phát triển năng lực số cho học sinh. 
 Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới khả năng phát triển năng lực số của HS, 
trong đó phải kể đến các nhân tố quan trọng sau đây: 
 - Môi trường xã hội của học sinh: Môi trường xã hội có ý nghĩa rất quan 
trọng đối với việc phát triển năng lực số cho HS. Nếu như cơ sở hạ tầng hạn chế 
(như điều kiện kết nối Internet khó khăn và tỷ lệ hộ gia đình có máy tính thấp), chi 
phí cao cho việc sử dụng hạ tầng CNTT, chất lượng công nghệ thấp sẽ ảnh 
hưởng lớn đến quá trình tiếp cận chuyển đối số cho HS. Hơn nữa, trong khi bối 
cảnh công nghệ đang thay đổi nhanh chóng, nếu quá trình cải cách chương trình 
giáo dục diễn ra chậm sẽ dẫn đến sự lạc hậu về công nghệ. 
 - Hoàn cảnh gia đình: Đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực 
số của HS. “Hiểu biết của cha mẹ về vai trò của CNTT đối với tương lai của trẻ, 
 4 
 đã hình thành nên phương thức giáo dục trong đó trẻ hòa nhập xã hội bằng cách 
sử dụng phương tiện truyền thông số tại nhà” (Mascheroniet al. 2016). Vì vậy cần 
đầu tư nhiều hơn vào nâng cao năng lực công nghệ số nhằm hỗ trợ cha mẹ để họ 
có thể tạo điều kiện cho con cái học tập và phát triển trong thời đại công nghệ số. 
 - Vai trò của các nhà trường: Nhà trường đóng một vai trò quan trọng trong 
việc phát triển các năng lực số bao gồm khả năng sáng tạo khi tích hợp công nghệ 
kỹ thuật số như một công cụ học tập tích cực. 
 - Vai trò của tổ chức, cá nhân trong việc hỗ trợ phát triển năng lực số cho 
học sinh: Các tổ chức, cá nhân này ngày càng được thừa nhận, cả về nỗ lực trong 
thiết kế các thiết bị và dịch vụ giúp trao quyền và bảo vệ trẻ em thông qua việc xóa 
mù công nghệ số hiệu quả và các cơ chế an toàn, khả năng hỗ trợ các sáng kiến 
nhằm đẩy mạnh xóa mù công nghệ số, như Sáng kiến An toàn của Google. 
 - Vai trò của môn Tin học trong việc hình thành năng lực số: Các chủ đề Tin 
học vừa cung cấp nội dung vừa cung cấp phương tiện để phát triển năng lực số. 
Phương tiện ở đây bao gồm các thiết bị số và phần mềm tin học hỗ trợ học tập, 
làm việc và các hoạt động tương tác trong xã hội số. 
 Ở môn học Địa lí, phương tiện ICT là yếu tố nằm ngoài, độc lập với môn 
học, bản thân GV phải khai thác và hướng dẫn HS cùng khai thác sao cho hiệu 
quả, qua đó phát triển năng lực số. 
 Vì vậy để phát triển năng lực số cho HS cần chú ý năng lực số bị ảnh hưởng 
nhiều hơn bởi việc sử dụng hơn là tiếp cận. Thứ hai, điều quan trọng không phải là 
thời gian ngồi trước máy tính mà là việc khai thác hết các chức năng của máy 
tính, cả ở nhà và ở trường. Thứ ba, kỹ năng số bị ảnh hưởng bởi số năm trẻ sử dụng 
máy tính: càng sớm có kỹ năng số thì tác động càng lớn. Thứ tư, cần tăng cường 
kỹ năng về ngôn ngữ viết của HS như đọc, hiểu và xử lý văn bản để phát triển 
các kỹ năng số cho các em. Thứ năm, việc GV ứng dụng CNTT-TT có mối 
tương quan tích cực với trình độ kỹ năng số của HS: nếu nhà trường muốn phát 
triển tốt nhất kỹ năng số của HS thì cần phải đầu tư đào tạo CNTT cho GV, 
đồng thời hỗ trợ tích hợp công nghệ số vào chương trình dạy học. 
1.3. Các khung năng lực số cho học sinh. 
 Khung năng lực số là một tập hợp các năng lực thành phần để nâng cao năng 
lực của một nhóm đối tượng cụ thể. Việc định hướng phát triển năng lực số cho 
HS phổ thông góp phần thực hiện thành công Chương trình giáo dục phổ thông 
2018, là cơ sở để cán bộ quản lí giáo dục, các cơ sở giáo dục phổ thông xây dựng 
kế hoạch phát triển năng lực số cho HS và GV. 
1.3.1. Nguyên tắc xây dựng khung năng lực số. 
 Việc xây dựng khung năng lực số cho HS cần đạt các yêu cầu sau đây: 
 - Khung năng lực số phải phù hợp với đặc điểm tâm lý của HS. 
 5 
 - Khung năng lực số phải kế thừa các hệ thống nguyên tắc của khu vực và thế 
giới, được bối cảnh hóa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. 
 - Khung năng lực số phải có tính mở, cho phép cập nhật và mở rộng phù hợp 
với sự tiến bộ của công nghệ kĩ thuật số. 
 - Khung năng lực số phải kết nối với lĩnh vực khoa học liên quan đến chuyển 
đổi số: Phân tích dữ liệu lớn, Trí tuệ nhân tạo, Internet kết nối vạn vật, công nghệ 
chuỗi khối, điện toán đám mây, các nền kinh tế dựa trên số liệu, ra quyết định dựa 
trên thuật toán và các hình thức tự động hóa khác sẽ tạo ra một tình huống trong 
đó các kỹ năng quan trọng nhất có thể không liên quan đến việc sử dụng trực tiếp 
công nghệ số, nhưng sẽ liên quan đến nhận thức về cách công nghệ số ảnh hưởng 
đến cuộc sống của chúng ta. 
 - Khung năng lực số phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội địa phương. 
 - Năng lực số có thể được hình thành ở gia đình, xã hội và nhà trường. Ở nhà 
trường năng lực số được hình thành thông qua các môn học, hoạt động giáo dục 
trong đó có môn Địa lí. 
1.3.2. Khung năng lực số dành cho học sinh. 
 Nội dung Khung năng lực số của HS trung học gồm 7 miền năng lực, 26 năng 
lực thành phần (dựa trên Khung năng lực của UNESCO-2019). Cụ thể như sau: 
 - Sử dụng các thiết bị kỹ thuật số: Đó là việc sử dụng thiết bị phần cứng để 
xác định và sử dụng được các chức năng và tính năng thiết bị phần cứng của thiết 
bị số và sử dụng phần mềm trong thiết bị số để biết và hiểu về dữ liệu, thông tin và 
nội dung số cần thiết, sử dụng đúng cách các phần mềm của thiết bị số. 
 - Kĩ năng về thông tin và dữ liệu: 
 + Kĩ năng duyệt, tìm kiếm và lọc dữ liệu, thông tin và nội dung số và xác định 
được thông tin cần tìm, tìm kiếm được dữ liệu, thông tin và nội dung trong môi 
trường số, truy cập đến chúng và điều hướng giữa chúng, đồng thời tạo và cập nhật 
các chiến lược tìm kiếm. 
 + Kĩ năng đánh giá dữ liệu, thông tin và nội dung số để phân tích, so sánh, 
đánh giá được độ tin cậy, tính xác thực của các nguồn dữ liệu số từ đó đánh giá đa 
chiều các dữ liệu, thông tin và nội dung số. 
 + Kĩ năng quản lý dữ liệu, thông tin và nội dung số để tổ chức, lưu trữ và truy 
xuất được các dữ liệu, thông tin và nội dung trong môi trường số. 
 + Tổ chức, xử lý và sử dụng hiệu quả công cụ số và thông tin tìm được để đưa 
ra những quyết định sáng suốt trong môi trường có cấu trúc. 
 - Giao tiếp và hợp tác: 
 + HS cần tương tác thông qua công nghệ, các thiết bị số và lựa chọn được 
phương tiện số phù hợp cho ngữ cảnh nhất định để sử dụng. 
 6 
 + HS biết thông qua công nghệ số để có thể chia sẻ dữ liệu, thông tin và nội 
dung số với người khác thông qua các công nghệ số phù hợp. Đồng thời HS cũng 
đóng vai trò là người chia sẻ thông tin từ nguồn thông tin đáng tin cậy. 
 + HS tham gia với tư cách công dân thông qua công nghệ số và tham gia vào 
xã hội thông qua việc sử dụng các dịch vụ số. 
 + Hợp tác thông qua công nghệ số: Sử dụng các công cụ và công nghệ số 
trong hoạt động hợp tác, cùng kiến tạo tài nguyên và kiến thức. 
 - Chuẩn mực giao tiếp: Nhận thức được các chuẩn mực hành vi và biết cách 
thể hiện các chuẩn mực đó trong quá trình sử dụng công nghệ số và tương tác trong 
môi trường số, từ đó điều chỉnh các chiến lược giao tiếp phù hợp với đối tượng cụ 
thể và nhận thức đa dạng văn hóa và thế hệ trong môi trường số. 
 - Quản lý định danh cá nhân: Đó là tạo, quản lý và bảo vệ được thông tin 
định danh cá nhân trong môi trường số, bảo vệ được hình ảnh cá nhân và xử lý 
được dữ liệu được tạo ra thông qua một số công cụ, môi trường và dịch vụ số. 
 - Sáng tạo sản phẩm số: bao gồm phát triển nội dung số; tích hợp và tinh 
chỉnh nội dung số; bản quyền sản phẩm số; và lập trình, viết các chỉ dẫn (dòng 
lệnh) cho hệ thống máy tính. 
 - An toàn kĩ thuật số: Bao gồm việc bảo vệ thiết bị và nội dung số, dữ liệu cá 
nhân và quyền riêng tư trong môi trường số; bảo vệ sức khỏe tinh thần và thể chất, 
có các biện pháp phòng tránh các tác động tiêu cực tới thể chất và tinh thần khi 
khai thác và sử dụng công nghệ số; và góp phần bảo vệ môi trường. 
 - Giải quyết vấn đề liên quan năng lực số: Đó là giải quyết các vấn đề kĩ 
thuật; xác định nhu cầu và phản hồi công nghệ; sử dụng sáng tạo thiết bị số; xác 
định thiếu hụt về năng lực số; và tư duy máy tính. 
 - Năng lực định hướng nghề nghiệp liên quan: Đó là vận hành những công 
nghệ số đặc trưng trong một lĩnh vực đặc thù, xác định và sử dụng được các công 
cụ và công nghệ số chuyên biệt cho một lĩnh vực cụ thể. Đồng thời diễn giải, thao 
tác với dữ liệu và nội dung kĩ thuật số cho một lĩnh vực đặc thù hiểu, phân tích và 
đánh giá được dữ liệu chuyên ngành, thông tin và nội dung số cho một lĩnh vực cụ 
thể trong môi trường số. 
 Việc thiết kế mức độ năng lực số cho từng cấp học sẽ góp phần quan trọng 
giúp các nhà trường, các tổ chức, cá nhân xã hội trong việc lập kế hoạch dạy học. 
Năng lực số sau mỗi cấp học thể hiện một mức tăng trưởng thể hiện ở mức độ nhận 
thức của HS, mức độ phức tạp của các nhiệm vụ mà HS xử lý được cũng như 
mức độ tự chủ của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ. 
 7 
 2. Cơ sở thực tiễn. 
2.1. Thực trạng dạy học và nhu cầu ứng dụng ICT trong dạy học hiện nay. 
 Những năm gần đây, ngành giáo dục rất quan tâm đến việc ứng dụng ICT vào 
hoạt động giảng dạy. Việc ứng dụng ICT vào hoạt động dạy học đã dần thay đổi 
phương pháp dạy học từ truyền thống sang phương pháp dạy học tích cực, giúp 
GV và HS phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo, sự chủ động và đạt hiệu quả. 
Từ mô hình lớp học trực tiếp đã dần chuyển sang các mô hình dạy học trực tuyến, 
sử dụng CNTT-TT đễ hỗ trợ các hoạt động giảng dạy, học tập. Qua đó, người học 
có thể tiếp cận tri thức mọi nơi, mọi lúc, chủ động trong học tập và ứng dụng kiến 
thực vào thực tiễn. Sự bùng nổ về công nghệ giáo dục đã, đang và sẽ tạo ra những 
phương thức giáo dục phi truyền thống, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền 
giáo dục mang tính chuyển đổi sâu sắc vì con người. 
 Thời gian vừa qua, khi dịch Covid-19 xảy ra trên toàn cầu đã ảnh hưởng đến 
mọi lĩnh vực của cuộc sống trong đó có ngành GDĐT. Dịch bệnh chuyển biến 
phức tạp chính là điều kiện để ngành giáo dục và các nhà trường nhận thấy tầm 
quan trọng lớn của chuyển đổi số. Bộ GDĐT cũng có nhiều văn bản, hướng dẫn để 
áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ trong dạy học vì vậy việc áp dụng 
CNTT trong dạy và học đã có những chuyển biến to lớn. Trên 80% cơ sở giáo dục 
phổ thông sử dụng phần mềm quản lý trường học, sổ điểm điện tử, học bạ điện tử 
và hầu hết các cơ sở giáo dục đại học đều sử dụng phần mềm quản trị nhà trường. 
Hệ thống quản lý hành chính điện tử kết nối từ Bộ GDĐT đến các Sở và các cơ sở 
đào tạo trên cả nước đã bước đầu phát huy hiệu quả. GV các ngành học, cấp học 
trên cả nước được huy động tham gia, đóng góp chia sẻ học liệu vào kho học liệu 
số toàn ngành; đóng góp lên Hệ tri thức Việt số hóa gần 5.000 bài giảng điện tử E-
learning có chất lượng, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm góp phần xây dựng xã hội 
học tập và đẩy mạnh học tập suốt đời. 
 Từ năm học 2020-2021, nhiều cơ sở giáo dục và các trường học, trong đó có 
trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, THPT Lê Viết Thuật, Thành phố Vinh, Tỉnh 
Nghệ An đã áp dụng giảng dạy online. Lớp học trở thành lớp học trực tuyến. Đồng 
thời, ngành giáo dục nước ta cũng xác định chuyển đổi số trong giáo dục sẽ không 
chỉ giới hạn tại thời kỳ dịch bệnh mà nó sẽ được áp dụng rộng rãi trong tương lai. 
Có thể nói sự phát triển của các ứng dụng trên nền tảng di động, mạng xã hội giúp 
người dùng dễ dàng tương tác mọi lúc mọi nơi, đã tạo điều kiện cho giáo dục trực 
tuyến phát triển lên bậc cao hơn. Việc khai thác và tiếp nhận tri thức trở nên đa 
chiều, HS có môi trường để phát huy các năng lực, sở trường và sự sáng tạo của 
mình. GV và HS có thể cùng nhau nâng cao chất lượng dạy học và phát triển các 
năng lực trong đó có năng lực số. 
 Bên cạnh một số trường đã áp dụng công nghệ số vào giảng dạy từ nhiều năm 
trước đây, thì vẫn còn khá nhiều trường chưa quen với hình thức đào tạo này; hoặc 
cơ sở vật chất, hạ tầng thông tin chưa đảm bảo để thực hiện giảng dạy trực tuyến, 
dạy học theo hướng chuyển đổi số một cách có hiệu quả. 
 8 
 Cùng với ảnh hưởng của dịch bệnh, sự phát triển của công nghệ số đã thúc 
đẩy nhu cầu ứng dụng ICT vào dạy học của cả GV và HS, trong đó có môn Địa lí. 
Để đánh giá được nhu cầu ứng dụng ICT trong dạy học hiện nay, chúng tôi đã tiến 
hành khảo sát nhu cầu ứng dụng ICT vào học tập đối với HS và giảng dạy đối với 
GV. Việc khảo sát được được tiến hành bằng việc sử dụng phần mềm Google 
Forms trên số lượng 452 học sinh lớp 11 của hai trường THPT Huỳnh Thúc Kháng 
và THPT Lê Viết Thuật và chúng tôi thu được kết quả như sau: 
 Bảng 1: Kết quả khảo sát ban đầu về nhu cầu ứng dụng ICT trong dạy học 
 (Dành cho HS) 
 Mức độ cần thiết 
 (Đơn vị: %) 
 Có cũng 
STT Các vấn đề/nội dung Không 
 được Cần Rất cần 
 cần 
 không có thiết thiết 
 thiết 
 cũng được 
 Sử dụng thiết bị số phục vụ cho 
 1 12,0 64,5 15,5 8,0 
 việc học 
 Bảo vệ các thiết bị và nội dung 
 2 5,0 60,2 25,8 9,0 
 số 
 Tìm kiếm dữ liệu, thông tin và 
 3 nội dung trong môi trường số 7,5 54,2 21,5 15,8 
 phục vụ cho việc học 
 Hiểu và thực hiện được các quy 
 4 định về bản quyền đối với dữ 6,5 68,5 20,0 5,0 
 liệu, thông tin và nội dung số 
 Nhận thức và biết cách thể hiện 
 các chuẩn mực hành vi trong sử 
 5 14,5 65,0 15,5 5,0 
 dụng công nghệ số và tương tác 
 trong môi trường số. 
 Phân tích đánh giá được độ tin 
 6 cậy, tính xác thực của các nguồn 24,8 55,0 15,0 5,2 
 dữ liệu, thông tin và nội dung số 
 Việc sử dụng các phần mềm 
 7 5,0 50,5 36,5 8,0 
 Zoom, Azota, Quizizz... 
 Việc bảo vệ hình ảnh cá nhân 
 8 9,5 55,0 23,3 12,2 
 trong môi trường số hiện nay 
 Biết và hiểu về dữ liệu, thông tin 
 và nội dung số cần thiết, sử dụng 
 9 5,0 51,8 35,2 8,0 
 đúng cách các phần mềm của 
 thiết bị số. 
 Chia sẻ dữ liệu, thông tin và nội 
 10 dung học tập thông qua các công 16,5 65,4 13,1 5,0 
 nghệ số phù hợp 
 9 
 Qua bảng kết quả chúng tôi nhận thấy việc ứng dụng CNTT vào dạy học đã 
được chú ý, nhiều HS đã có nhu cầu ứng dụng ICT vào phục vụ cho việc học tập. 
Tuy nhiên phần lớn HS vẫn chưa nhận thấy rõ mức độ cần thiết của việc ứng dụng 
ICT vào học tập, các em xác định có hay không cũng không quan trọng chiếm trên 
50% - 60%. Việc thu nhận kiến thức của HS vẫn chủ yếu là thụ động, chưa tích 
cực, sáng tạo, chủ yếu tiếp cận khai thác tri thức sách giáo khoa, ít quan tâm đến 
học liệu số. Đối với các em nhu cầu ứng dụng ICT chủ yếu phục vụ cho mục đích 
giải trí nhiều hơn như để chơi game, lướt web, chơi Facebook, Zalo còn thật sự 
cần thiết phục vụ cho việc học tập mới chỉ chiếm 10% số HS được khảo sát. 
 Đồng thời để đánh giá thực trạng và nhu cầu ứng dụng ICT trong dạy học 
chúng tôi còn tiến hành khảo sát 120 GV tại hai trường THPT Huỳnh Thác Kháng 
và THPT Lê Viết Thuật trong năm học 2020-2021. Và chúng tôi cũng thu được kết 
quả khả quan như sau: 
 Bảng 2: Kết quả khảo sát ban đầu về nhu cầu ứng dụng ICT trong dạy học 
 (Dành cho GV) 
 Mức độ cần thiết (Đơn vị: %) 
 Có cũng 
 Không Rất 
 STT Các vấn đề/nội dung được Cần 
 cần cần 
 không có thiết 
 thiết thiết 
 cũng được 
 Theo thầy (cô) việc sử dụng thiết bị 
 1 số như điện thoại thông minh, máy 10,0 25,0 30,0 35,0 
 tính cho việc dạy học có cần thiết? 
 Theo thầy (cô) có cần phải bảo vệ 
 2 7,0 27,0 38,0 32,0 
 các thiết bị và nội dung số không? 
 Theo thầy (cô) việc tìm kiếm dữ 
 liệu, thông tin và nội dung trong môi 
 3 10,0 15,0 35,0 30,0 
 trường số phục vụ cho việc dạy học 
 có cần thiết? 
 Thầy (cô) hiểu và thực hiện các quy 
 4 định về bản quyền đối với dữ liệu, 9,0 18,0 38,0 35,0 
 thông tin và nội dung số nhưthế nào? 
 Theo thầy (cô) việc nhận thức và 
 biết cách thể hiện các chuẩn mực 
 5 11,0 23,0 28,0 38,0 
 hành vi trong quá trình sử dụng công 
 nghệ số như thế nào? 
 Theo thầy (cô) việc phân tích đánh 
 giá được độ tin cậy, tính xác thực 
 6 10,0 18,0 32,0 40,0 
 của các nguồn dữ liệu, thông tin và 
 nội dung số có cần thiết không? 
 Theo thầy (cô)việc sử dụng các phần 
 7 mềm Zoom, Azota, Quizizz...trong 16,0 21,0 35,0 28,0 
 dạy học có cần thiết? 
 10 
 Theo thầy (cô) việc bảo vệ hình ảnh 
 8 cá nhân trong các hoạt động trong 5,0 20,0 28,0 47,0 
 môi trường số hiện nay có cần thiết ? 
 Theo thầy (cô) việc biết và hiểu về 
 dữ liệu các nội dung số, cách sử 
 9 9,0 19,0 37,0 35,0 
 dụng đúng các phần mềm của thiết 
 bị số có cần thiết? 
 Theo thầy (cô) việc chia sẻ dữ liệu, 
 thông tin và nội dung học tập với 
 10 8,0 29,0 33,0 38,0 
 người khác thông qua các công nghệ 
 số phù hợp có cần thiết? 
 Có thể thấy rằng đa số GV đã được trang bị các thiết bị phục vụ cho việc ứng 
dụng ICT vào giảng dạy, đồng thời hơn 70% số giáo viên được khảo sát đã thấy 
được sự cần thiết của việc ứng dụng ICT vào quá trình dạy học. Đó là phương 
pháp để giúp GV và HS tiếp cận với các thông tin đa chiều, từ đó bài học trở nên 
hấp dẫn, hứng thú hơn, đồng thời phát huy được sự chủ động, sáng tạo cho HS. 
Nhưng bên cạnh đó một số GV vẫn chưa thật sự quan tâm đến việc ứng dụng 
CNTT vào quá trình giảng dạy của mình, vẫn mang nặng phương pháp truyền 
thống, thiếu sự chủ động, linh hoạt, chưa phát huy được sự sáng tạo, năng lực ứng 
dụng ICT cho HS. Số lượng GV chưa thấy được sự cần thiết phải ứng dụng ICT 
vào dạy học chiếm tỉ lệ không nhiều, khoảng 5-10 % số GV được khảo sát. 
 Có thể nói thực trạng dạy học và nhu cầu ứng dụng ICT nhằm thực hiện 
chuyển đổi số ở nhiều nơi vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức cho cả nhà trường, 
GV và HS: 
 Một là cơ sở vật chất, hạ tầng mạng, trang thiết bị (như máy tính, camera, 
máy in), đường truyền, dịch vụ internet còn thiếu, lạc hậu, chưa đồng bộ, nhiều 
nơi chưa đáp ứng yêu cầu cho chuyển đổi số. 
 Hai là ý thức, thái độ của HS đối với việc ứng dụng ICT vào học tập vẫn chưa 
thật sự tốt. Nhiều em sử dụng công nghệ chủ yếu dành cho việc giải trí nhiều hơn 
là phục vụ cho quá trình học tập của bản thân. 
 Ba là quá trình tiếp cận về kiến thức trực tuyến ở vùng sâu, vùng xa thường 
gặp nhiều khó khăn. Đây chính là vấn đề phải được ưu tiên khắc phục giúp triển 
khai thành công và đặc biệt là nhu cầu dạy và học trực tuyến trong thời kỳ dịch 
bệnh hiện nay. Đối với những khu vực miền núi hay vùng sâu, vùng xa thì hạ tầng 
mạng và trang thiết bị CNTT hiện chưa được đảm bảo, gây ảnh hưởng lớn đến 
công tác về quản lý giáo dục trong dạy và học. 
 Bốn là vẫn chưa có sự kiểm soát sát sao và toàn diện về học liệu số. Để đáp 
ứng được nhu cầu học tập và nghiên cứu của người học, cần kho tài liệu số chuẩn 
xác. Tuy nhiên, nguồn nhân lực cũng như tài chính nước ta vẫn chưa thể đáp ứng 
được công việc này. Vì vậy, hiện đang xảy ra rất nhiều tình trạng về học liệu số 
tràn lan tuy nhiên thiếu tính xác thực và không được kiểm soát chặt chẽ về chất 
 11 
 lượng cũng như nội dung. Từ đó, sẽ gây ra tình trạng không đồng nhất về kiến thức 
và tạo nên nhiều hệ lụy khác như tiêu hao tài chính. 
 Ngoài ra các quy định trong pháp lý chuyên về giáo dục vẫn chưa được hoàn 
thiện. Đây là vấn đề lớn gây ảnh hưởng tới quyền sở hữu trí tuệ cũng như an ninh 
thông tin, Đồng thời đây cũng là cơ sở giúp hoàn thiện những quy định về thời 
lượng và cách kiểm tra, công nhận kết quả học trực tuyến. Tuy nhiên, những vấn 
đề này hiện nay vẫn chưa được thực hiện một cách đồng nhất cũng như rõ ràng và 
chặt chẽ, từ đó gây nên nhiều bất cập trong quá trình chuyển đổi số. 
 Mặc dù áp dụng chưa được thực hiện một cách xuyên suốt, tuy nhiên, cùng 
với sự phát triển nhanh chóng từ công nghệ và việc đẩy mạnh áp dụng chuyển đổi 
số giáo dục, thì chắc chắn rằng hầu hết khó khăn sẽ được giải quyết. Vì vậy để 
thực hiện thành công chuyển đổi số trong dạy học điều quan trọng là ngành giáo 
dục cùng GV và HS phải hiểu rõ tầm quan trọng, sự cần thiết phải thực hiện 
chuyển đổi số tại thời điểm hiện tại và trong tương lai. 
2.2. Tính cấp thiết của việc thực hiện chuyển đổi số trong dạy học ở giai đoạn 
hiện nay. 
 Nhiệm vụ của ngành GDĐT trong “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến 
năm 2025, định hướng đến năm 2030” được phê duyệt tại Quyết định số 749/QĐ-
TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ như sau: “Phát triển nền tảng hỗ 
trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng 
dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên 
giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến ”. Như vậy nội 
dung cơ bản của chuyển đổi số phải được triển khai theo hướng trong dạy học 
chuyển việc truyền thụ kiến thức chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình sang phát 
triển năng lực người học, tăng khả năng tự học, tạo cơ hội học tập mọi lúc, mọi 
nơi, cá nhân hóa việc học, góp phần tạo ra xã hội học tập và học tập suốt đời. 
 Hiện nay, đã có nhiều mô hình giáo dục thông minh đang được phát triển trên 
nền tảng ứng dụng CNTT; hỗ trợ đắc lực việc cá nhân hóa học tập (mỗi người học 
một giáo trình và một phương pháp học tập riêng không giống với người khác); 
giúp cho HS truy cập kho kiến thức khổng lồ trên môi trường mạng được nhanh 
chóng, dễ dàng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tương tác giữa gia đình, nhà 
trường, GV và HS. 
 Có thể nói việc thực hiện chuyển đổi số trong dạy học hiện nay là vô cùng cần 
thiết. Bởi việc thực hiện chuyển đổi số đưa lại các lợi ích sau đây: 
 Một là, thực hiện chuyển đổi số sẽ tạo được môi trường giáo dục linh động. 
Giờ đây, người học có thể tiếp thu kiến thức một cách thuận tiện và dễ dàng trên 
mọi thiết bị (máy tính, laptop, smartphone, ). Điều này đã mở ra một nền giáo 
dục mở hoàn toàn mới. Bất cứ thời điểm nào, tại bất cứ đâu, bất cứ ai đều có thể 
tiếp cận được các thông tin kiến thức một cách đa chiều nhất. Nó loại bỏ hoàn toàn 
 12 
 những giới hạn về khoảng cách, tối ưu thời gian học và nâng cao nhận thức, tư duy 
của HS. 
 Hai là tạo điều kiện cho GV và HS truy cập tài liệu học tập không giới hạn. 
Chuyển đổi số sẽ tạo ra kho học liệu mở khổng lồ cho người học. Điều đó có nghĩa 
là HS có thể truy cập vào các tài nguyên học tập một cách dễ dàng và ít tốn kém 
hơn. Số hóa học liệu (sách giáo khoa điện tử, bài giảng điện tử, kho bài giảng e-
learning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm), thư viện số, phòng thí nghiệm ảo, triển 
khai hệ thống đào tạo trực tuyến HS có thể khai thác học liệu nhanh chóng bằng 
các thiết bị trực tuyến mà không bị giới hạn bất kể tình trạng kinh tế của họ. Mặt 
khác, chuyển đổi số cũng giúp việc chia sẻ tài liệu giữa HS và GV trở nên dễ dàng 
và tiết kiệm hơn do giảm thiểu được các chi phí về in ấn. 
 Ba là việc ứng dụng công nghệ số sẽ tăng tính tương tác và trải nghiệm thực 
tế cho cả GV và HS. Dạy học theo hướng chuyển đổi số sẽ giúp gia tăng tính tương 
tác hai chiều do HS có thể nói chuyện face to face (một - một) với GV mà không bị 
giới hạn bởi không gian. So với phương pháp học lý thuyết truyền thống chỉ có thể 
tưởng tượng qua sách vở, công nghệ mới giúp người học có những trải nghiệm đa 
giác quan, tạo cảm giác tò mò, hứng thú hơn khi học. 
 Bốn là chuyển đổi số sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Chuyển đối 
số ngành giáo dục đã tạo ra kỷ nguyên mới, thời đại mà người dạy và người học 
được trao quyền để sử dụng công nghệ. Các thành tựu công nghệ giúp lưu trữ mọi 
kiến thức lên không gian mạng, giúp theo dõi hành vi, quản lý, giám sát HS; giúp 
xây dựng hệ thống quản lý thông tin và hồ sơ giáo dục của HS, cho phép hợp nhất, 
quản lý và chia sẻ dữ liệu từ nhiều trường học, ghi chép lại lịch sử học tập, bảng 
điểm của học sinh để đảm bảo thông tin dữ liệu được đồng nhất, minh bạch. 
 Có thể nói việc phát triển năng lực số cho HS phải được thực hiện trong các 
cấp học và các môn học, trong đó có môn Địa lí. Môn Địa lí là một trong những 
môn học khoa học ứng dụng, có kiến thức gắn liền với thực tiễn, đòi hỏi HS phải 
được phát triển toàn diện các năng lực trong đó có năng lực ứng dụng CNTT để 
đáp ứng yêu cầu mới hiện nay. Để đáp ứng mỗi HS hiện nay và tương lai là một 
công dân toàn cầu thì việc chuyển đổi số trong dạy học và phát triển năng lực số 
cho HS là thực sự rất cần thiết, cần phải được triển khai rộng rãi trong các cấp học, 
các môn học, trong đó có môn Địa lý. 
3. Các giải pháp tổ chức dạy học theo hướng chuyển đổi số nhằm phát triển 
năng lực số cho học sinh. 
3.1. Xây dựng kế hoạch phát triển năng lực số cho học sinh tại trường THPT 
Huỳnh Thúc Kháng và THPT Lê Viết Thuật. 
Bước 1. Đánh giá ban đầu: Thực trạng việc dạy học và nhu cầu ứng dụng ICT 
trong dạy học của hai trường. 
*Bước 1.1: Đánh giá nhu cầu và thực trạng ứng dụng ICT trong học tập của HS. 
 13 
 Sử dụng phiếu khảo sát đánh giá sơ bộ năng lực số của HS điều chỉnh xây 
dựng khung (về miền năng lực, năng lực thành phần và mức độ thành thạo ) cho 
HS của trường THPT Huỳnh Thúc Kháng và THPT Lê Viết Thuật và nhận được 
kết quả như sau: 
 Bảng 3: Kết quả khảo sát ban đầu về thực trạng ứng dụng ICT trong dạy học 
 (dành cho HS trường THPT Huỳnh Thúc Kháng và THPT Lê Viết Thuật) 
- Thời gian : tháng 10/2020 
- Số học sinh được khảo sát : 452 em học sinh khối 11. 
- Kết quả : 
 Tình trạng 
 (Đơn vị: %) 
 STT Nội dung/ vấn đề Có nhưng 
 Thành 
 Chưa chưa 
 thạo 
 thành thạo 
 Em đã từng sử dụng thiết bị số như điện thoại 
 1 12,5 74,5 13,0 
 thông minh, máy tính cho việc học 
 Em đã có thể sử dụng các phần mềm trong các 
 2 84,6 10,3 5,1 
 thiết bị số cho việc học 
 Biết xác định các thông tin cần tìm và tìm kiếm 
 3 được dữ liệu, thông tin trong môi trường số 86,5 10,5 3,0 
 phục vụ cho học tập 
 Biết phân tích đánh giá được độ tin cậy, tính 
 4 93,2 6,8 0,0 
 xác thực của các nguồn dữ liệu 
 Lưu trữ và truy xuất được các dữ liệu, thông tin 
 5 84,5 9,5 5,0 
 và nội dung trong môi trường số 
 6 Tương tác thông qua các thiết bị số 40,6 56,2 3,2 
 Sử dụng các công cụ và công nghệ số trong 
 7 68,0 24,5 7,5 
 hoạt động hợp tác trong học tập 
 Em đã sử dụng một hay các phần mềm Zoom, 
 Azota, Quizizz, Shubclass, Google Meet, 
 8 89,4 5,6 5,0 
 Microsoft Teams, Phần mềm giáo dục sơ đồ tư 
 duy Edraw Mind Map... trong học tập 
 Sử dụng các công cụ và công nghệ số trong các 
 9 80,5 10,0 9,5 
 hoạt động giáo dục khác 
 Em đã được các thầy cô cho ứng dụng các thiết 
 10 60,2 24,6 15,2 
 bị số trong các tiết học 
 Qua số liệu khảo sát, đối chiếu với khung năng lực số của UNESCO-2019, thì 
nhận thấy thực trạng là phần lớn HS của 2 trường ít nhiều đã được tiếp cận các 
thiết bị số. HS phần lớn đã được trang bị thiết bị số cho cá nhân như điện thoại 
thông minh, ipad, hay máy tính. Do tình hình dịch bệnh các em đã tiếp cận các 
hình thức dạy học trực tuyến được triển khai ở các trường nhằm thích nghi với tình 
hình. Một số em đã tham gia các lớp học Zoom, mở phòng Google Meet để trao 
đổi với bạn bè. Tuy nhiên qua khảo sát thì số HS sử dụng thiết bị số cho học tập 
 14 
 vẫn còn hạn chế, hoặc mới chỉ sử dụng với mức độ đơn giản. Việc sử dụng các học 
liệu số như các tài liệu trên các trang mạng, các phần mềm, ứng dụng cho dạy 
học... còn rất hạn chế. Tại thời điểm khảo sát, nhiều HS còn chưa biết tới các phần 
mềm như: Zoom, Azota, Quizizz, Google Meet, Microsoft Teams . 
 Đồng thời chúng tôi còn tiến hành khảo sát tìm hiểu bối cảnh đối tượng HS về 
tâm lý lứa tuổi, nhu cầu của các em trong việc học tập và tiếp cận CNTT trong học 
tập. Các loại thiết bị của bản thân các em đã và đang sử dụng. Qua khảo sát chúng 
tôi thu được kết quả như sau: 
 Bảng 4: Kết quả khảo sát ban đầu về nhu cầu ứng dụng ICT trong dạy học 
 (Dành cho học sinh) 
- Thời gian : tháng 10/2020 
- Số học sinh được khảo sát : 452 em học sinh khối 11. 
- Kết quả : 
 Mức độ cần thiết 
 (Đơn vị: %) 
 Có cũng 
 STT Các vấn đề/nội dung Không Rất 
 được Cần 
 cần cần 
 không có thiết 
 thiết thiết 
 cũng được 
 Sử dụng thiết bị số như điện thoại 
 1 12,8 64,5 15,2 8,5 
 thông minh, máy tính cho việc học 
 2 Bảo vệ các thiết bị và nội dung số 5,5 61,2 25,5 8,8 
 Tìm kiếm dữ liệu, thông tin và nội 
 3 dung trong môi trường số phục vụ 7,0 55,0 22,5 15,5 
 cho việc học 
 Hiểu và thực hiện được các quy định 
 4 về bản quyền đối với dữ liệu, thông 5,0 67,5 20,5 7,0 
 tin và nội dung số 
 Nhận thức và biết cách thể hiện các 
 5 chuẩn mực hành vi trong quá trình sử 15,0 65,7 14,3 5,0 
 dụng công nghệ số 
 Phân tích đánh giá được độ tin cậy, 
 6 tính xác thực của các nguồn dữ liệu, 25,2 54,6 14,4 4,8 
 thông tin và nội dung số 
 Việc sử dụng các phần mềm Zoom, 
 7 5,0 52,0 35,0 8,0 
 Azota, Quizizz... trong học tập 
 Việc bảo vệ hình ảnh cá nhân trong 
 8 12,5 55,0 20,5 12,0 
 các hoạt động trong môi trường số 
 Biết và hiểu về dữ liệu, thông tin và 
 9 nội dung số cần thiết, sử dụng đúng 5,0 52,8 34,2 8,0 
 cách các phần mềm của thiết bị số 
 Chia sẻ dữ liệu, thông tin và nội dung 
 10 học tập với người khác thông qua các 15,2 64,2 15,3 5,3 
 công nghệ số phù hợp 
 15 
 Kết quả khảo sát cho thấy đối tượng HS lớp 11 ở lứa tuổi 15 - 16 các em đều 
có nhu cầu muốn được hiểu biết, nhu cầu thông tin, nhu cầu trao đổi giao tiếp với 
bạn bè, thầy cô, nhu cầu tìm kiếm tài liệu....Chỉ có khoảng 10% số HS được khảo 
sát cho rằng việc sử dụng thiết bị số trong học tập là không cần thiết. Tuy nhiên số 
HS nhận thức được sự cần thiết của các thiết bị số trong học tập chưa thật cao, mới 
khoảng 15% số HS được khảo sát. Đặc biệt đa số HS vẫn còn chưa thật sự quan 
tâm về việc phát triển năng lực số và ý nghĩa của việc học tập qua các thiết bị số 
nên chọn mức độ được khảo sát là “có cũng được và không có cũng được”. Vì vậy 
đây là vấn đề mà đề tài quan tâm và cần giải quyết. 
 Một thực tế là hầu như các em đều đã được gia đình trang bị cho các thiết bị 
số. Các thiết bị các em thường sử dụng như: máy tính, điện thoại thông minh, 
Ipad...Trong tổng số hơn 452 em HS của 2 trường THPT Huỳnh Thúc Kháng và 
THPT Lê Viết Thuật tham gia khảo sát thì có đến 82% số HS đã được gia đình 
trang bị cho sử dụng điện thoại thông minh. Số HS có máy tính là 12%. Phần lớn 
HS của 2 trường cũng như HS trong tỉnh Nghệ An và cả nước đều có nhu cầu về 
ứng dụng ICT trong học tập do thực tế của việc dạy học đối phó với dịch bệnh hiện 
nay. Tuy nhiên thực trạng về khả năng và nhu cầu ứng dụng ICT trong học tập của 
HS vẫn còn những hạn chế, bất cập. 
*Bước 1.2. Đánh giá nhu cầu và thực trạng ứng dụng ICT trong tổ chức dạy học 
của giáo viên. 
 Bảng 5: Kết quả khảo sát GV về thực trạng ứng dụng ICT trong dạy học. 
- Thời gian khảo sát: tháng 10/2020 
- Số giáo viên được khảo sát: 120 giáo viên . 
- Kết quả: 
 Tình trạng 
 (Đơn vị: %) 
 STT Nội dung/ vấn đề Có nhưng 
 Thành 
 Chưa chưa 
 thạo 
 thành thạo 
 Thầy (cô) đã từng sử dụng thiết bị số như điện 
 1 5,0 75,2 22,5 
 thoại thông minh, máy tính cho việc dạy học 
 Thầy (cô) đã có thể ứng dụng các phần mềm 
 2 55,8 35,1 9,1 
 cho việc dạy học 
 Thầy (cô) biết xác định các thông tin cần tìm 
 3 và tìm kiếm được dữ liệu, thông tin trong môi 45,0 44,5 5,5 
 trường số phục vụ cho học tập 
 Thầy (cô) biết phân tích đánh giá được độ tin 
 4 cậy, tính xác thực của các nguồn dữ liệu đùng 60,3 27,9 11,8 
 cho việc dạy học 
 Thầy (cô) biết lưu trữ và truy xuất được các 
 5 dữ liệu, thông tin và nội dung trong môi 63,5 28,0 8,5 
 trường số 
 6 Thầy (cô) đã từng tổ chức cho tương tác với 
 16 

File đính kèm:

  • pdfskkn_phat_trien_nang_luc_so_cho_hoc_sinh_thpt_trong_day_hoc.pdf