SKKN Một số giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học sinh Trường THPT Đô Lương 2 trong thời đại chuyển đổi số

Bồi dưỡng năng lực tự học (NLTH) cho học sinh là điều rất quan trọng và cần thiết trong điều kiện hiện nay. Thời gian tự học là lúc HS có điều kiện tự nghiền ngẫm vấn đề học tập theo một yêu cầu, phong cách riêng và với tốc độ thích hợp. Điều đó không những giúp HS nắm vấn đề một cách chắc chắn và bền vững, bồi dưỡng phương pháp học tập và kĩ thuật vận dụng tri thức, mà còn là dịp tốt để HS rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động sáng tạo. Đó là những điều không ai cung cấp được cho HS nếu các em không thông qua hoạt động bản thân. NLTH là phẩm chất cần thiết cho sự phát triển và thành đạt lâu dài của mỗi con người. Trong thời đại KHKT phát triển nhanh chóng như hiện nay, nhà trường dẫu tốt đến mấy cũng không đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người học. Vì vậy chỉ có tự học, tự bồi dưỡng mới có thể bù đắp cho mình những thiếu khuyết về tri thức, về đời sống xã hội. Từ đó có được sự tự tin trong cuộc sống và công việc.

Ngày nay khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dạy học đã dần thay đổi phương pháp giảng dạy học tập từ truyền thống sang phương pháp giảng dạy tích cực thì vai trò tự học càng được khẳng định. Tự học giúp người học hình thành được tính tích cực, độc lập tự giác trong học tập cũng như nề nếp làm việc khoa học. Nhiệm vụ của ngành GDĐT trong “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” được phê duyệt tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ như sau: “Phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến…”.

Như vậy nội dung cơ bản của chuyển đổi số phải được triển khai theo hướng trong dạy học chuyển việc truyền thụ kiến thức chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình sang phát triển năng lực người học, tăng khả năng tự học, tạo cơ hội học tập mọi lúc, mọi nơi, cá nhân hóa việc học, góp phần tạo ra xã hội học tập và học tập suốt đời. Hiện nay, học sinh trung học phổ thông còn nhiều vướng mắc, khó khăn khi học tập, chưa thực sự dành nhiều thời gian cho việc tự học, chưa xây dựng và rèn luyện kĩ năng tự học hợp lí. Mặt khác, do nhiều nguyên nhân nên giáo viên chỉ lo thực hiện chức năng giảng dạy của mình mà ít quan tâm đến rèn luyện kĩ năng toàn diện cho học sinh trong đó có kĩ năng tự học.

Vì vậy, mỗi nhà trường cần đưa phương pháp tự học vào mục tiêu dạy học. Bởi lẽ, nó không chỉ cần thiết cho học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà cả khi học lên bậc đại học, ra trường hòa nhập với xã hội, trong suốt cuộc đời. Khi tự học, mỗi học sinh hoàn toàn có điều kiện để tự nghiền ngẫm những vấn đề nảy sinh trong học tập theo một cách riêng với những yêu cầu và điều kiện thích hợp. Điều đó không chỉ giúp bản thân học sinh nắm được vấn đề một cách chắc chắn và bền vững; chủ động bồi dưỡng phương pháp học tập và kĩ năng vận dụng tri thức mà còn là dịp tốt để rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động độc lập sáng tạo. Đó là những phẩm chất mà chỉ có chính bản thân học sinh tự rèn luyện kiên trì mới có được, không một ai có thể cung cấp hay làm thay. Thực tế cũng đã chứng minh, mỗi thành công của học sinh trên con đường học tập không bao giờ là kết quả của lối học tập thụ động.

Tuy nhiên khi tự học trong môi trường chuyển đổi số HS có thể bị quá thu hút bởi các ứng dụng giải trí dẫn đến sao nhãng trong việc học, thời gian dành cho việc học ít hoặc HS chưa bắt kịp với sự thay đổi chuyển đổi số trong giáo dục nên chưa tiếp thu được lượng kiến thức mong muốn và sẽ dần mất đi sự tự tin của bản thân và không còn tìn tưởng vào khả năng của mình, dần mất đi sự sáng tạo, hứng thú, niềm vui trong học tập từ đó kết quả học tập không tốt, HS sẽ ngày càng chán nản và khó khăn cho việc tiếp thu các kiến thức tiếp theo. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp khắc phục những vấn đề mà HS gặp phải trong tự học của thời đại công nghệ số giúp HS lựa chọn được phương pháp học tập hợp lý, phù hợp với bản thân, nâng cao hiệu quả học tập của HS. Chính vì những lí do trên mà chúng tôi lựa chọn đề tài "Một số giải pháp nâng cao năng lực tự học cho HS THPT Đô Lương 2 trong thời đại chuyển đổi số" với mong muốn góp phần giúp các em HS tìm thấy phương pháp tự học phù hợp trong thời đại chuyển đổi số, nâng cao được năng lực tự học (NLTH) từ đó có hiệu quả học tập tốt hơn.

pdf 53 trang Giang Thanh 28/11/2025 2250
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học sinh Trường THPT Đô Lương 2 trong thời đại chuyển đổi số", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học sinh Trường THPT Đô Lương 2 trong thời đại chuyển đổi số

SKKN Một số giải pháp nâng cao năng lực tự học cho học sinh Trường THPT Đô Lương 2 trong thời đại chuyển đổi số
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN 
 TRƯỜNG THPT ĐÔ LƯƠNG 2 
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
 ĐỀ TÀI: 
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC 
CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT ĐÔ LƯƠNG 2 TRONG 
 THỜI ĐẠI CHUYỂN ĐỔI SỐ 
 Lĩnh vực: Kĩ năng sống 
 Nhóm tác giả: Nguyễn Thị Kim Nhung - Tổ KHXH 
 Nguyễn Thị Loan - Tổ KHXH 
 Nguyễn Thị Minh Mẫn - Tổ Toán Tin 
 Năm học: 2022 - 2023 
 Số điện thoại: 0986.069.230 - 0987.829.234 
 0973.954.324 
 1 
 PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ 
 1. Lý do chọn đề tài 
 Bồi dưỡng năng lực tự học (NLTH) cho học sinh là điều rất quan trọng và cần 
thiết trong điều kiện hiện nay. Thời gian tự học là lúc HS có điều kiện tự nghiền ngẫm 
vấn đề học tập theo một yêu cầu, phong cách riêng và với tốc độ thích hợp. Điều đó 
không những giúp HS nắm vấn đề một cách chắc chắn và bền vững, bồi dưỡng 
phương pháp học tập và kĩ thuật vận dụng tri thức, mà còn là dịp tốt để HS rèn luyện 
ý chí và năng lực hoạt động sáng tạo. Đó là những điều không ai cung cấp được cho 
HS nếu các em không thông qua hoạt động bản thân. NLTH là phẩm chất cần thiết 
cho sự phát triển và thành đạt lâu dài của mỗi con người. Trong thời đại KHKT phát 
triển nhanh chóng như hiện nay, nhà trường dẫu tốt đến mấy cũng không đáp ứng 
được nhu cầu đa dạng của người học. Vì vậy chỉ có tự học, tự bồi dưỡng mới có thể 
bù đắp cho mình những thiếu khuyết về tri thức, về đời sống xã hội. Từ đó có được sự 
tự tin trong cuộc sống và công việc. Ngày nay khi khoa học công nghệ ngày càng phát 
triển, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dạy học đã dần thay đổi 
phương pháp giảng dạy học tập từ truyền thống sang phương pháp giảng dạy tích cực 
thì vai trò tự học càng được khẳng định. Tự học giúp người học hình thành được tính 
tích cực, độc lập tự giác trong học tập cũng như nề nếp làm việc khoa học. 
 Nhiệm vụ của ngành GDĐT trong “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến 
năm 2025, định hướng đến năm 2030” được phê duyệt tại Quyết định số 749/QĐ-TTg 
ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ như sau: “Phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và 
học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học 
tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học 
tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến ”. Như vậy nội dung cơ bản của chuyển 
đổi số phải được triển khai theo hướng trong dạy học chuyển việc truyền thụ kiến thức 
chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình sang phát triển năng lực người học, tăng khả 
năng tự học, tạo cơ hội học tập mọi lúc, mọi nơi, cá nhân hóa việc học, góp phần tạo 
ra xã hội học tập và học tập suốt đời. 
 Hiện nay, học sinh trung học phổ thông còn nhiều vướng mắc, khó khăn khi 
học tập, chưa thực sự dành nhiều thời gian cho việc tự học, chưa xây dựng và rèn 
luyện kĩ năng tự học hợp lí. Mặt khác, do nhiều nguyên nhân nên giáo viên chỉ lo thực 
hiện chức năng giảng dạy của mình mà ít quan tâm đến rèn luyện kĩ năng toàn diện 
cho học sinh trong đó có kĩ năng tự học. Vì vậy, mỗi nhà trường cần đưa phương 
pháp tự học vào mục tiêu dạy học. Bởi lẽ, nó không chỉ cần thiết cho học sinh khi còn 
ngồi trên ghế nhà trường mà cả khi học lên bậc đại học, ra trường hòa nhập với xã hội, 
trong suốt cuộc đời. Khi tự học, mỗi học sinh hoàn toàn có điều kiện để tự nghiền 
ngẫm những vấn đề nảy sinh trong học tập theo một cách riêng với những yêu cầu và 
điều kiện thích hợp. Điều đó không chỉ giúp bản thân học sinh nắm được vấn đề một 
cách chắc chắn và bền vững; chủ động bồi dưỡng phương pháp học tập và kĩ năng 
vận dụng tri thức mà còn là dịp tốt để rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động độc lập 
 2 
sáng tạo. Đó là những phẩm chất mà chỉ có chính bản thân học sinh tự rèn luyện kiên 
trì mới có được, không một ai có thể cung cấp hay làm thay. Thực tế cũng đã chứng 
minh, mỗi thành công của học sinh trên con đường học tập không bao giờ là kết quả 
của lối học tập thụ động. 
 Tuy nhiên khi tự học trong môi trường chuyển đổi số HS có thể bị quá thu hút 
bởi các ứng dụng giải trí dẫn đến sao nhãng trong việc học, thời gian dành cho việc 
học ít hoặc HS chưa bắt kịp với sự thay đổi chuyển đổi số trong giáo dục nên chưa 
tiếp thu được lượng kiến thức mong muốn và sẽ dần mất đi sự tự tin của bản thân và 
không còn tìn tưởng vào khả năng của mình, dần mất đi sự sáng tạo, hứng thú, niềm 
vui trong học tập từ đó kết quả học tập không tốt, HS sẽ ngày càng chán nản và khó 
khăn cho việc tiếp thu các kiến thức tiếp theo. 
 Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp khắc 
phục những vấn đề mà HS gặp phải trong tự học của thời đại công nghệ số giúp HS 
lựa chọn được phương pháp học tập hợp lý, phù hợp với bản thân, nâng cao hiệu quả 
học tập của HS. Chính vì những lí do trên mà chúng tôi lựa chọn đề tài "Một số giải 
pháp nâng cao năng lực tự học cho HS THPT Đô Lương 2 trong thời đại chuyển 
đổi số" với mong muốn góp phần giúp các em HS tìm thấy phương pháp tự học phù 
hợp trong thời đại chuyển đổi số, nâng cao được năng lực tự học (NLTH) từ đó có 
hiệu quả học tập tốt hơn. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 - Nghiên cứu các biểu hiện các thành phần của NLTH. 
 - Nghiên cứu, đánh giá biểu hiện, các yếu tố ảnh hưởng tới NLTH của HS 
trong môi trường học tập chuyển đổi số. 
 - Đề xuất các giải pháp giải quyết những vấn đề khó khăn HS gặp phải trong 
quá trình tự học với công nghệ số giúp HS tìm được phương pháp học tập phù hợp 
đối với bản thân, tăng khả năng thích nghi và ứng phó với những thay đổi do 
chuyển đổi số mang lại từ giúp HS phát huy được sự sáng tạo trong quá trình học 
tập với công nghệ số, nâng cao NLTH và đạt được kết quả học tập ngày càng cao. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 Sáng kiến này nghiên cứu các nội dung sau đây: 
 - Nghiên cứu xác lập cơ sở lý luận về NLTH của HS trong môi trường học 
tập chuyển đổi số. 
 - Khảo sát, đánh giá về thực trạng về NLTH của HS THPT trong môi trường 
học tập chuyển đổi số trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. 
 - Đề xuất biện pháp nâng cao NLTH của HS THPT trong môi trường học tập 
chuyển đổi số 
 - Tiến hành đánh giá hiệu quả thực hiện của các giải pháp. 
 3 
 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 
 4.1. Đối tượng nghiên cứu 
 NLTH của HS trong môi trường học tập chuyển đổi số và biện pháp tác 
động để nâng cao NLTH cho HS THPT trong môi trường học tập chuyển đổi số. 
 4.2. Phạm vi nghiêm cứu 
 - Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn về 
NLTH của HS THPT trong môi trường học tập chuyển đổi số và giải pháp tác 
động để nâng cao NLTH cho HS THPT trong môi trường học tập chuyển đổi số. 
 - Không gian nghiên cứu: Đề tài được triển khai nghiên cứu cho HS Trường 
THPT Đô Lương 2, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. 
 - Thời gian nghiên cứu: Đề tài thực hiện trong năm học 2021 – 2022 và năm 
học 2022 – 2023. 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 Để nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp sau: 
 - Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: 
 + Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống, khái quát 
hóa,...các thông tin, các tài liệu (về phương pháp học tập, chuyển đổi số) để phân 
tích, tổng hợp, hệ thống hóa những vấn đề liên quan làm cơ sở lý luận cho đề tài. 
 - Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: 
 + Phương pháp điều tra theo bảng hỏi nhằm tìm hiểu thực trạng về NLTH 
của HS THPT Đô Lương 2, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An trong môi trường học 
tập chuyển đổi số. 
 + Phương pháp quan sát các hoạt động của giáo viên, học sinh trong các giờ 
học, điều kiện dạy và học của giáo viên và học sinh. 
 + Phương pháp phỏng vấn giáo viên và học sinh, các nhà quản lý giáo dục 
nhằm có được những thông tin về NLTH của HS trong môi trường học tập chuyển 
đổi số, làm sáng tỏ những nhận định khách quan của kết quả nghiên cứu. 
 + Phương pháp thống kê toán học sử dụng để tính toán các tham số đặc 
trưng, so sánh kết quả thực nghiệm. 
 6. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu đề tài 
 - Về lý luận: 
 Phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận về NLTH và chuyển đổi số. Trong đó 
bao gồm hệ thống các khái niệm liên quan đến NLTH, cấu trúc NLTH, vai trò của 
tự học đối với học sinh THPT. Những yếu tố ảnh hưởng tới NLTH của HS trong 
môi trường học tập chuyển đổi số. 
 - Về thực tiễn: 
 4 
 + Đề tài đã góp phần đánh giá được thực trạng về NLTH của HS THPT Đô 
Lương 2 trong thời đại chuyển đổi số. 
 + Đề tài đã khảo sát đưa ra được những nguyên nhân dẫn đến thực trạng tự 
học của HS trường THPT Đô Lương 2. 
 + Đề tài đã đưa vào một ứng dụng một số phần mềm, kỹ thuật, phương pháp 
tự học cho HS THPT trong thời đại chuyển đổi số. 
 + Đề tài đã đề xuất được các giải pháp góp phần nâng cao NLTH cho HS 
trường THPT Đô Lương 2. 
 + Các giải pháp được đề xuất trong sáng kiến không chỉ góp phần nâng cao 
NLTH cho HS trường THPT Đô Lương 2 mà còn áp dụng cho các trường THPT 
trên địa bàn và các trường có điều kiện tương tự. 
 5 
 PHẦN II - NỘI DUNG 
 Chương 1 – Cơ sở lý luận về NLTH của HS trong môi trường học tập 
 chuyển đổi số 
 1.1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 
 Tự học là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định thành công của 
mỗi người. Vì vậy có được phương pháp tự học hợp lý, phù hợp sẽ là chìa khóa để 
mở ra cánh cửa tri thức, mang đến cho con người sự hiểu biết vô tận từ đó có được 
thành công trong học tập, công việc và cuộc sống. 
 Trên thế giới từ xa xưa cũng đã có những nhà nghiên cứu về vấn đề tự học 
và phương pháp tự học. 
 Trong cuốn sách của Avner Ben-Zaken có nhan đề "Reading Hayy Ibn-
Yaqzan: a Cross-Cultural History of Autodidacticism" (Đọc Hayy Ibn-Yaqzan: 
Lịch sử giao lưu văn hóa của chủ nghĩa Tự học), Avner Ben-Zaken cho thấy sự 
thành công của tác phẩm từ cuối thời đại Trung cổ Andalusia cho tới đầu thời kì 
Châu Âu hiện đại và cách tác phẩm mô tả những phương pháp tự học phức tạp bị 
lên án và buộc phải điều chỉnh để phù hợp với những nền văn hóa khác nhau. 
 Trong tác phẩm The Ignorant Schoolmaster (1987), Jacques Rancière miêu 
tả sự tự học để giải phóng của Joseph Jacotot, một nhà triết học giáo dục tiên 
phong, người đã khám phá ra rằng mình có thể tự học những điều mình chưa biết. 
 Ngoài ra, A.A. Goroxepxki – M.I. Lubixowra (1987) với công trình nghiên 
cứu “Tổ chức công việc tự học của sinh viên đại học”, NXB ĐHSP Hà Nội cũng 
đánh giá cao vai trò tự học, kĩ năng tự học của sinh viên. 
 Ở Việt Nam cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về kĩ năng tự học của sinh viên 
ngành quản lí giáo dục trường đại học Vinh, tác giả Hồ Thị Hoài.“Một số vấn đề 
về hoạt động tự học của sinh viên trong giai đoạn hiện nay”, tạp chí Giáo dục, số 
Đặc biệt, tháng 1, Tác giả Dương Thị Linh (2010), Luận án tiến sĩ khoa học: “Phát 
triển kĩ năng tự học cho HS các trường dự bị đại học dân tộc” của Lê Trọng Tuấn. 
 Hay là đề tài nghiên cứu khoa học về “vai trò của giáo dục Việt Nam thời 
đại 4.0” của Vương Quân Hoàng từ đại học Phenikaa Hà Nội nhằm nghiên cứu về 
sự thay đổi của nên giáo dục Việt Nam trong thời đại 4.0 những thách thức cũng 
như sự phát triển trong nền giáo dục. 
 Đề tài nghiên cứu khoa học, luận án của PGS.TS Hà Nam Khánh Giao “Một 
số nhận định về trường đại học trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0” nhằm rút 
ra một nhân định chung về việc học trong thời đại 4.0 và những sự thay đổi trong 
thời đại này. 
 Tuy nhiên nhóm tác giả chưa thấy một công trình nào nghiên cứu về nâng 
cao NLTH của HS trong thời đại chuyển đổi số. Qua đó mục đích tìm ra các yếu tố 
 6 
ảnh hưởng đến NLTH của HS trong thời đại 4.0 và biện pháp để nâng cao NLTH 
của HS trong môi trường học tập chuyển đổi số. 
 1.2. Cơ sở lí luận 
 1.2.1. Một số khái niệm 
 1.2.1.1. Tự học (Self learning) 
 Khái niệm tự học từ lâu đã được đề cập trong nhiều tài liệu khác nhau: Henri 
Holec (1996), tác giả Nguyễn Kỳ và GS Trần Phương, David Little (2009),... Theo 
Từ điển Giáo dục học “Tự học là quá trình tự mình lĩnh hội tri thức khoa học và 
rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn của giáo viên và sự quản lý 
trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo”. 
 Sau quá trình phân tích và tổng hợp thông tin, chúng tôi nhận thấy, tự 
 học không chỉ là hoạt động “cá nhân hóa” việc học mà đó là quá trình tiếp nhận 
 tri thức độc lập với sự hỗ trợ từ ngoại cảnh (internet, sách vở, sự tư vấn của giáo 
 viên...). Người tự học tốt, là người có thể sử dụng hiệu quả các hỗ trợ và phương 
 pháp học tập phù hợp và hiệu quả với bản thân. Cuối cùng, chúng tôi xin được 
 đề xuất khái niệm tự học như sau: 
 Tự học là một quá trình lĩnh hội tri thức một cách độc lập trong đó, người 
 học hoàn toàn chịu trách nhiệm về tất cả các quyết định liên quan đến việc học 
 tập của mình và việc thực hiện các quyết định đó, thông qua việc xác định mục 
 tiêu, nội dung, lựa chọn sự hỗ trợ từ ngoại cảnh, phương pháp học tập và tự quản 
 lý, đánh giá quá trình cùng kết quả học tập. 
 1.2.1.2. Năng lực 
 Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào 
tạo: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn 
có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến 
thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, ... thực 
hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong 
những điều kiện cụ thể” 
 1.2.1.3. Phương pháp học tập 
 Phương pháp học tập là những cách thức, xây dựng một lộ trình cụ thể trong 
quá trình học tập từ đó giúp bạn đạt được nhiều hiệu quả cao. Mục đích để người 
học hiểu và nắm được nội dung của bài học. Phương pháp học tập hiệu quả sẽ giúp 
bạn dễ dàng tiếp thu, học tập nhanh hơn, trau dồi kiến thức, có một định hướng 
đúng đắn từ đó thúc đẩy bản thân ngày càng phát triển hơn. 
 1.2.1.4. Động cơ học tập 
 Theo tự điển Tiếng Việt: "Động cơ là cái chi phối thúc đẩy người ta suy nghĩ 
và hành động" 
 7 
 Theo J.Piaget: "Động cơ là tất cả các yếu tố thúc đẩy cá thể hoạt động nhằm 
đáp ứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó" 
 Động cơ hoạt động là nguyên nhân trực tiếp của hành động, duy trì hứng 
thú, tạo ra sự chú ý liên tục, giúp chủ thể vượt qua mọi khó khăn đạt mục đích đã 
định. Động cơ hoạt động quyết định kết quả của hoạt động. 
 Với các khái niệm dẫn dắt như trên, ta có thể hiểu "Động cơ học tập là 
những nhân tố kích thích, thúc đẩy tính tích cực, hứng thú học tập của học sinh 
nhằm đạt kết quả về nhận thức và phát triển nhân cách" 
 1.2.1.5. Chuyển đổi số trong giáo dục 
 Chuyển đổi số trong giáo dục là quá trình chuyển đổi hoạt động giáo dục từ 
không gian truyền thống sang không gian số thông qua công nghệ mới, thay đổi 
phương thức dạy học, kiểm tra đánh giá và quản lí quá trình dạy học nhằm đáp ứng 
nhu cầu học tập, giảng dạy, giúp phát huy tối đa khả năng tư duy, sáng tạo, chủ 
động của giáo viên và học sinh. 
 1.2.2. Năng lực tự học (NLTH) 
 1.2.2.1. Khái niệm về NLTH 
 Theo Lê Công Triêm, NLTH là “khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận 
dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao”. 
 Khái niệm năng lực tự học: Năng lực tự học (NLTH) là khả năng của bản 
thân người học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng và hiệu 
quả bằng cách áp dụng kiến thức đã lĩnh hội vào những tình huống, những hoạt 
động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó. 
 Qua nghiên cứu các tài liệu khác nhau nhóm nghiên cứu chúng em đưa ra 
khái niệm về NLTH của HS phổ thông như sau: NLTH của HS phổ thông là khả 
năng HS lập được kế hoạch tự học một cách khoa học, thực hiện có hiệu quả kế 
hoạch tự học đã lập, tự đánh giá kết quả đạt được và điều chỉnh được quá trình tự 
học. Hay năng lực tự học là một khả năng trong đó người học là chủ thể tự giác 
tích cực, chủ động, độc lập (hoặc hợp tác) chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào 
đó trong học tập, trong cuộc sống nhằm đạt được mục đích nhất định. 
 1.2.2.2. Vai trò của tự học đối với học sinh THPT 
 Theo Th.S Dương Thị Thanh Huyền, bồi dưỡng năng lực tự học là phương 
 cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập. Năng lực tự học 
 mang đến cho người học sự hứng thú trong tìm tòi, nghiên cứu những tri thức. Có 
 hứng thú, người học mới xây dựng được tính tự giác. Qua đó, tự học góp phần 
 định hướng và phát triển cho tính độc lập học tập suốt đời. 
 Mở rộng hơn nữa, theo Tạp chí Khoa học Đại Học Quốc Gia Hà Nội,tự 
 học còn có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hình thành nhân cách cho sinh 
 viên. Việc rèn luyện năng lực tự học hỗ trợ người học xây dựng thói quen độc 
 8 
 lập trong suy nghĩ, giải quyết vấn đề, khó khăn. Từ đó, giúp họ có được sự tự tin 
 trong cuộc sống. Hơn thế, tự học còn thúc đẩy lòng ham học, ham hiểu biết, khát 
 khao vươn tới những đỉnh cao của khoa học và sống có hoài bão, ước mơ. 
 1.2.2.3. Cấu trúc và biểu hiện của NLTH 
 Năng lực tự học được nhận định thông qua một số biểu hiện sau: 
 - Xác định được mục tiêu học tập: Học sinh tự xác định nhiệm vụ học tập 
dựa trên kết quả đạt được; đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục được 
những khía cạnh yếu kém. 
 - Lập kế hoạch và thực hiện cách học: Học sinh có khả năng đánh giá và điều 
chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học tập riêng của bản thân; tìm được 
nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; thành thạo sử dụng 
thư viện, chọn các tài liệu và làm thư mục phù hợp với từng chủ đề học tập của các 
bài tập khác nhau; ghi chép thông tin đọc được bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi 
cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết; tự đặt được vấn đề học tập. 
 - Đánh giá và điều chỉnh việc học: Học sinh tự nhận ra và điều chỉnh được 
những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của 
mình, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều 
chỉnh cách học. Để tiện cho việc đánh giá, mỗi tiêu chí cần phân ra các mức độ 
khác nhau để cụ thể hóa việc đánh giá. 
 Bảng 1.1: Cấu trúc NLTH của HS trường THPT 
 Các năng lực thành 
TT Biểu hiện NLTH 
 phần 
 1. Xác định mục tiêu và nội dung cần TH. 
 Năng lực xây dựng 
1 2. Xác định phương pháp và phương tiện TH. 
 kế hoạch tự học 
 3. Xác định thời gian TH và dự kiến kết quả. 
 4. Thu thập/Tìm kiếm nguồn thông tin TH 
 Năng lực thực hiện 5. Phân tích và xử lí thông tin đã tìm kiếm. 
2 
 kế hoạch tự học. 6. Vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết tình 
 huống/ nhiệm vụ học tập. 
 Năng lực đánh giá 7. Đánh giá kết quả TH theo thang đánh giá NLTH và 
 kết quả tự học và chuẩn kiến thức, kĩ năng. 
3 
 điều chỉnh quá trình 8. Điều chỉnh và rút ra bài học kinh nghiệm cho nhiệm 
 tự học vụ TH tiếp theo. 
 Dựa trên cấu trúc của NLTH chúng tôi đã đưa ra các mức độ biểu hiện của 
năng lực thành phần của NLTH như sau: 
 9 
 Bảng 1.2: Bảng mô tả mức độ biểu hiện NLTH của HS 
Biểu Mức độ biểu hiện 
hiện 1 2 3 4 
 NL xây dựng kế hoạch TH 
 Xác định được 
 Xác định được mục 
 Chưa xác định Xác định được mục mục tiêu, nội 
 tiêu, nội dung và 
 được mục tiêu, tiêu, nội dung cần TH dung và mức độ 
 1 mức độ cần đạt của 
 nội dung cần nhưng chưa xác định cần đạt của 
 1 từng nội dung 
 TH và mức độ được mức độ cần đạt từng nội dung 
 nhưng chưa rõ ràng, 
 cần đạt được. của từng nội dung. một cách rõ 
 chi tiết. 
 ràng, chi tiết. 
 Xác định được 
 Chưa xác định Xác định được Xác định được 
 phương pháp và 
 được phương phương pháp phương pháp và 
 2 phương tiện TH 
 pháp và TH nhưng chưa xác phương tiện TH 
 2 nhưng chưa phù 
 phương tiện định được phương phù hợp với nội 
 hợp với nội dung 
 TH. tiện TH. dung TH. 
 TH. 
 Xác định được thời Xác định được thời Xác định được 
 Chưa xác định gian cho mỗi hoạt gian cho mỗi hoạt thời gian cho 
 được thời gian động TH nhưng chưa động TH và dự kiến mỗi hoạt động 
 3
 TH và chưa dự phân phối thời gian kết quả đạt được TH một cách rõ 
 3 
 kiến kết quả hợp lý và chưa dự nhưng chưa phân ràng, hợp lý và 
 đạt được. kiến được kết quả đạt phối thời gian hợp dự kiến kết quả 
 được. lý. đạt được. 
 NL thực hiện kế hoạch TH 
 Thu thập/Tìm 
 Thu thập/Tìm kiếm kiếm được 
 Thu thập/Tìm kiếm được nguồn thông nguồn thông tin 
 Chưa thu 
 được nguồn thông tin tin TH phù hợp TH phù hợp và 
 thập/tìm4 kiếm 
 TH nhưng chưa chính nhưng chưa biết sắp biết lựa chọn, 
 4 nguồn thông 
 xác và phù hợp với xếp các thông tin sắp xếp các 
 tin để TH. 
 nội dung TH. thu thập được theo thông tin thu 
 từng nội dung. thập được theo 
 từng nội dung. 
 Chưa5 phân tích Phân tích và xử lí Phân tích và xử lí Phân tích và xử 
 5 và xử lí thông thông tin đã tìm kiếm thông tin đã tìm lí thông tin đã 
 tin đã tìm kiếm được nhưng chưa kiếm được chính tìm kiếm được 
 10 
 được. chính xác. xác nhưng chưa rút chính xác và rút 
 ra kết luận. ra kết luận. 
 Vận dụng được 
 Chưa vận dụng 
 Vận dụng được kiến Vận dụng được kiến kiến thức, kĩ 
 được kiến 
 thức, kĩ năng để giải thức, kĩ năng để năng để giải 
 thức, kĩ năng 
 6 quyết tình huống/ giải quyết tình quyết tình 
 để giải quyết 
 6 nhiệm vụ học tập huống/ nhiệm vụ huống/ nhiệm 
 tình huống/ 
 nhưng chưa chính học tập nhưng chưa vụ học tập một 
 nhiệm vụ học 
 xác. rõ ràng, đầy đủ. cách rõ ràng, 
 tập. 
 đầy đủ. 
 NL đánh giá kết quả TH và điều chỉnh quá trình TH 
 Đánh giá kết 
 Chưa đánh giá 
 Đánh giá kết quả TH Đánh giá kết quả quả TH theo 
 kết quả TH 
 theo ý kiến chủ quan TH theo chuẩn kiến thang đánh giá 
 theo thang 
 7 và chưa chính xác thức, kĩ năng nhưng NLTH và chuẩn 
 đánh giá 
 7 theo thang đánh giá chưa đánh giá theo kiến thức, kĩ 
 NLTH và 
 NLTH và chuẩn kiến thang đánh giá năng một cách 
 chuẩn kiến 
 thức, kĩ năng. NLTH. rõ ràng, chính 
 thức, kĩ năng. 
 xác. 
 Chưa điều Điều chỉnh sai sót Điều chỉnh sai 
 Điều chỉnh sai sót 
 chỉnh sai sót và nhưng chưa phù hợp sót và rút ra 
 nhưng chưa rút ra 
 rút8 ra bài học và chưa rút ra bài học được bài học 
 bài học kinh 
 8 kinh nghiệm kinh nghiệm cho kinh nghiệm 
 nghiệm cho nhiệm 
 cho nhiệm vụ nhiệm vụ TH tiếp cho nhiệm vụ 
 vụ TH tiếp theo. 
 TH tiếp theo. theo. TH tiếp theo. 
 Tiếp thu những quan điểm trên, chúng tôi phân chia hoạt động tự học bao 
gồm các nhóm kỹ năng cơ bản sau: nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng thiết 
kế (lập kế hoạch), nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch và nhóm kỹ năng kiểm tra, 
đánh giá, rút kinh nghiệm . 
 1.2.2.4. Các hình thức tự học 
 Tự học có thể diễn ra dưới sự chỉ đạo trực tiếp hay không trực tiếp của giảng 
viên, tự học thực hiện qua nhiều bước khác nhau như: tiếp nhận thông tin từ nhiều 
kênh khác nhau, xử lý thông tin đã tiếp nhận dựa vào kinh nghiệm hiểu biết của 
bản thân, tự kiểm tra, đánh giá thông tin thu được và giải quyết các vấn đề do 
nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn đạt ra, tự học diễn ra với các hình thức sau: 
 - Tự học hoàn toàn: là hình thức mà người học hoàn toàn độc lập hoàn thành 
các nhiệm vụ học tập của mình, vai trò của người học là nhân tố trọng yếu nhất 
 11 
trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Hình thức tự học này còn gọi là tự nghiêncứu 
của các nhà khoa học. 
 - Tự học có sự điều khiển, chỉ đạo của thầy nhưng không giáp mặt: Hình 
thức tự học này đòi hỏi người học phải có tính tự giác và tính tự lực cao, phải tuân 
thủ theo chỉ dẫn của thầy. Hiệu quả của hình thức tự học này phụ thuộc vào vai trò 
của người hướng dẫn, và vai trò tích cực, chủ động hoàn thành các nhiệm vụ học 
tập của người học. 
 - Tự học dưới sự tổ chức, chỉ đạo, điều khiển trực tiếp của thầy: Thông qua 
biện pháp tổ chức, định hướng, thiết kế chỉ đạo của người thầy nhằm giúp cho 
người học tự tổ chức, tự thiết kế, tự thi công hoạt động học tập của mình bằng hoạt 
động tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh nhằm hoàn thành nhiệm 
vụ học tập. Kết quả tự học của sinh viên trong hình thức này phụ thuộc vào mối 
quan hệ thống nhất biện chứng giữa người dạy và người học, yếu tố đóng vai trò 
quan trọng là sự tổ chức, chỉ đạo của thầy, yếu tố đóng vai trò quyết định là sự tích 
cực, tính tự giác, năng lực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động tự học của sinh viên. 
Vì vậy nhiệm vụ quan trọng của người thầy trong hình thức tự học này là phải phát 
huy được tính chủ động tích cực, tính tự giác, tính độc lập hoàn thành các nhiệm 
vụ học tập của sinh viên, hình thành phương pháp tự học cho sinh viên để họ có 
khả năng tự học, tự hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mình.Trong quá trình 
hoạt động dạy học giảng viên không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức 
có sẵn, chỉ cần yêu cầu sinh viên ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ 
chức cho sinh viên tự mình khám phá ra những qui luật, thuộc tính mới của các 
vấn đề khoa học. Giúp sinh viên không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách 
tìm đến những tri thức ấy. 
 1.2.2.5. Những yếu tố ảnh hưởng tới NLTH của HS trong môi trường học 
tập chuyển đổi số 
 Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới NLTH của HS như yếu tố bên trong (sức 
khỏe, tâm lý, sở thích) và yếu tố bên ngoài. 
 a) Những yếu tố bên trong 
 Các yếu tố bên trong bắt nguồn từ bản thân người học. Tâm lý, sức khỏe, sở 
thích, tư duy ảnh hưởng tích cực và tiêu cực. 
 - Yếu tố sức khỏe 
 Học tập là hoạt động trí óc, là kết quả của sự quan sát , lắng nghe có chọn 
lọc. Vì thế, học tập chịu sự tác động của sức khỏe. Sức khoẻ không tốt ảnh hưởng 
rất lớn đến quá trình tiếp thu. Nếu đến lớp, sức khoẻ không tốt làm giảm khả năng 
tập trung, khả năng ghi nhớ. 
 - Yếu tố tâm lý 
 Tâm lý ảnh hưởng lớn đến việc học. Khi đối mặt với một môn học mà mình 
thích thú, trước sẽ có tâm lý hưng phấn. Còn đối với những môn khó so với khả 
 12 
năng của bản thân , con người sẽ có tâm lý lo sợ , né tránh. Giải thích theo khoa 
học, khi có tâm lý vui vẻ, hưng phấn, lượng máu được đưa lên não nhiều hơn, bộ 
não người xử lý thông tin nhanh chóng, khả năng tiếp thu cao. Yếu tố tâm lý còn 
ảnh hưởng đến cách nhìn nhận vấn đề. Tâm lý tốt khiến ta nhìn nhận việc học như 
là một thú vui, học tập hăng say hơn. Ngược lại, khi tâm lý buồn chán, con người 
có nhiều suy nghĩ tiêu cực, tinh thần chịu stress , khả năng tập trung giảm, nhìn 
nhận việc học như một gánh nặng gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất học tập. 
 - Sở thích 
 Sở thích quyết định sự hứng thú trong học tập của mỗi cá nhân.Thực tế đã 
chứng minh, bất cứ ai cũng sẽ học tốt hơn ở những môn học mà mình thích. Trong 
khi đó việc học lại không đạt được hiệu quả khi học những môn mình không yêu 
thích. Không đạt được kết quả như ý muốn càng khiến cho người học có cảm giác 
chán nản đối với những môn học vốn dĩ đã không có nhiều cảm tình. Hứng thú học 
tập được sinh ra đối với một môn học làm tăng khả năng tiếp thu cũng như tính 
nhẫn nại của học sinh đối với môn học đó, khiến cho chúng ta có thể cố gắng nhiều 
hơn ở môn mình yêu thích để đạt được kết quả tốt. Việc khiến cho bản thân có thể 
ưa thích nhiều môn học cũng như làm cho những môn học mình không yêu thích 
trở nên bớt nhàm chán là một việc làm quan trọng để tăng hiệu quả học tập. 
 Theo (Meyer, 2010), các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến NLTH là các kĩ 
năng mà cá nhân người học cần có để tiến hành TH. Các kĩ năng đó bao gồm: 
 - Kĩ năng nhận thức: kĩ năng ghi nhớ, kĩ năng chú ý, kĩ năng giải quyết vấn 
đề. Những kĩ năng này là biểu hiện ra bên ngoài của kết quả nhận thức. HS cần 
phải đạt được một mức độ nhất định trong sự phát triển nhận thức của mình. GV 
có thể thúc đẩy sự phát triển của quá trình nhận thức để khuyến khích việc TH của 
HS. Theo Dương Thị Diệu Hoa (2020), sự phát triển nhận thức của HS ở lứa tuổi 
thanh niên (từ lớp 10 trở đi) thể hiện ở phạm vi đối tượng nhận thức rất rộng với sự 
quan tâm tìm hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau chứ không chỉ dừng ở nội dung học 
tập do thầy/cô cung cấp. 
 - Kĩ năng siêu nhận thức: các kĩ năng liên quan đến hiểu biết về cách thức 
thực hiện của việc TH, ví dụ như HS có thể tự nói lên cách học, tự xác định một số 
tài nguyên về nhân lực, vật lực có thể hỗ trợ cho quá trình học tập. Nếu ở tiểu học, 
hoạt động học của HS chủ yếu ở mức làm quen và hình thành thông qua các khái 
niệm gắn với các sự vật cụ thể, ở trung học cơ sở HS chủ yếu học phương pháp 
học và bước đầu lĩnh hội các khái niệm khoa học thì ở cấp THPT, HS phải lĩnh hội 
hệ thống khái niệm có tính trừu tượng. Như vậy, phương pháp học hay cách học 
của HS đã được hình thành và rèn luyện từ cấp tiểu học, vì thế lên tới cấp THPT, 
người học đã có thể xác định cách học nào là phù hợp với bản thân. 
 - Kĩ năng xúc cảm: liên quan đến cảm nhận của người học sau đó nội tâm 
hóa và hành động hóa thành các việc làm cụ thể. Động cơ, hứng thú học tập là một 
kĩ năng xúc cảm quan trọng và nó liên quan trực tiếp đến việc thúc đẩy cho NLTH 
 13 
của HS và cũng có thể là kết quả của quá trình TH. Xét một ví dụ về động cơ học 
tập của HS. Động cơ này có thể là mong muốn được điểm cao để chứng tỏ bản 
thân với gia đình và bạn bè. Với động cơ như vậy, HS cần dành nhiều thời gian và 
công sức để TH, và khi đạt được kết quả, sự thỏa mãn cũng như phấn khích về kết 
quả đạt được sẽ tiếp tục thúc đẩy việc TH của các em. Với HS THPT, động cơ học 
tập có tính hiện thực, gắn liền với nhu cầu và xu hướng nghề nghiệp. Các động cơ 
khác như động cơ xã hội (học vì danh dự, vì lời khen ) không còn chiếm ưu thế 
như đối với HS các cấp dưới. 
 b) Các yếu tố bên ngoài 
 (MacBeath, 1993) đã chỉ ra các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới TH bao 
gồm: 
 - Môi trường vật lí: phải đáp ứng được nhu cầu có một không gian thích hợp 
cho người học. Ví dụ: trong phạm vi lớp học, thư viện, góc học tập... 
 - Môi trường thời gian: là thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc của một 
nhiệm vụ học tập giúp người học đặt giới hạn và tiến độ học tập cũng như để cho 
bản thân được nghỉ ngơi xứng đáng hoặc chuyển đổi định hướng. Việc có giới hạn 
để thực hiện nhiệm vụ học tập sẽ thúc đẩy HS phải TH để có thể hoàn thành nhiệm 
vụ đó trong một khoảng thời gian nhất định. Ví dụ: Thời gian HS dành để làm bài 
tập, thời gian học nhóm, thời gian hoàn thành một dự án do giáo viên (GV) giao 
 - Môi trường “ngang hàng”: đó là môi trường tạo ra bởi các bạn cùng lớp 
hay cùng nhóm học tập. Trong môi trường ngang hàng, việc thi đua giữa các bạn 
trong nhóm hay phân chia thực hiện các nhiệm vụ trong nhóm sẽ thúc đẩy việc TH 
của từng cá nhân. Ví dụ: học tập theo nhóm nhỏ, theo cặp đôi, các nhóm học trên 
lớp, nhóm TH theo sở thích 
 - Tài nguyên tham khảo: các tài nguyên như sách, audio, video, một số tài 
liệu trên mạng. Tài nguyên tham khảo này có thể đến từ nhiều nguồn như thầy/cô, 
bố/mẹ, bạn bè hay bản thân HS tự tìm hiểu. 
 - Tài nguyên từ GV: đề cập đến các tài nguyên cũng như sự hỗ trợ của GV 
trong việc TH của HS. Đây có thể là kiến thức, kĩ năng hoặc một số định hướng 
cũng như các nhiệm vụ học tập mà GV thiết kế cho HS thực hiện. 
 1.2.3. Một số định hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh 
 1.2.3.1. Tác động tới các yếu tố bên trong ảnh hưởng tới năng lực tự học 
 - Tạo động cơ, nhu cầu học tập: Yếu tố bên trong, nhu cầu nội tại của người 
học là quan trọng nhất để HS có thể TH. Đó chính là động lực, là hứng thú học tập 
của người học. 
 - Thúc đẩy kĩ năng nhận thức bao gồm: kĩ năng ghi nhớ, kĩ năng chú ý và kĩ 
năng giải quyết vấn đề. Bên cạnh đó các kĩ năng quản lí việc học tập như lên kế 
hoạch, quản lí việc học, giao tiếp trong học tập và các kĩ năng mềm kèm theo. 
 14 
 - Thúc đẩy kĩ năng siêu nhận thức: hay nói cách khác là kĩ năng học cách 
học. Mỗi HS phù hợp với một cách học chủ đạo khác nhau, ví dụ như có HS thích 
học bằng cách viết ra các ghi chú trên bài giảng, có HS thích học thông qua việc 
làm bài tập thật nhiều, có HS thích học theo nhóm, có HS thích học một mình 
Tìm được cách học phù hợp sẽ giúp việc học của HS đạt hiệu quả cao hơn. 
 1.2.3.2. Tác động tới các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới năng lực tự học 
 Với đặc thù môn Tin học, công cụ học tập là máy tính - một trong những 
yếu tố quan trọng trong môi trường học tập. Môi trường học tập này không chỉ 
trong lớp học mà còn mở rộng không gian, thời gian để người học có thể học mọi 
lúc, mọi nơi với sự hỗ trợ từ các nguồn lực học tập, các nội dung học tập phong 
phú, phù hợp. 
 1.2.3.3. Phối hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng tới năng lực 
tự học 
 Có thể thấy các yếu tố bên trong và bên ngoài mặc dù tách rời nhưng lại có 
những gắn bó mật thiết. GV phải tạo được động cơ học tập cho HS, nắm được các 
kĩ năng sẵn có của người học cũng như cách học của từng em để có được sự hỗ trợ, 
định hướng phù hợp. Việc tạo ra các nhóm học tập, các nhiệm vụ học tập phù hợp 
trong môi trường thời gian và môi trường ngang hàng cũng cần dựa trên cơ sở các 
yếu tố bên trong sẵn có của người học. 
 1.2.3.4. Phát triển năng lực tự học phải phù hợp với xu thế thời đại 
 HS hiện nay sử dụng máy tính, điện thoại thông minh và Internet rất phổ 
biến với nhiều mục đích như kết bạn trên mạng xã hội, chia sẻ thông tin, tìm hiểu 
về các lĩnh vực các em quan tâm. Vì thế, tận dụng nguồn lực này để tạo ra các hoạt 
động TH, phát triển NLTH cho HS là một xu thế tất yếu. 
 1.2.4. Tự học trong thời đại công nghệ số 
 Bản chất tự học thời đại công nghệ số là: 
 - “Tự học” gắn liền với khoa học công nghệ, phương tiện điện tử, e-
learning: Sự phát triển của khoa học và công nghệ, trước hết là ICT đã kéo theo 
những tác động khách quan làm thay đổi cả bản chất của việc tự học của HS. Nhờ 
có mạng máy tính, đặc biệt là mạng Internet, IOT, kho tàng tri thức của nhân loại 
đã được lưu trữ, xử lí và trao đổi dễ dàng trên phạm vi toàn cầu, theo nhu cầu và 
không phụ thuộc vào vị trí địa lí của người sử dụng. Từ đó xuất hiện phương thức 
đào tạo mới “Lớp học đảo ngược”, mà thực chất cũng là một kiểu tự học có điều 
khiển. Người ta gọi Internet là “người” thầy vĩ đại nhất thế giới đối với người tự 
học. Các loại sản phẩm trí tuệ của loài người ngày càng đổ dồn vào không gian 
Internet làm cho kho tri thức khổng lồ trên Internet ngày càng trở nên thông minh 
hơn, đây là điều kiện tuyệt vời của người tự học. Như vậy, khi có “thầy” Internet, 
việc tự học của HS sẽ thay đổi về chất so với tự học trước đây và cơ sở khoa học 
về lí luận của “tự học” thời Internet sẽ khác với “tự học” thời “tiền” Internet. 
 15 
 - Phương pháp “Tự học” gắn liền với phương pháp nghiên cứu khoa học 
hay “khai phá dữ liệu” dưới sự hướng dẫn của thầy: Internet là biển thông tin vô 
tận, nhưng liệu người tự học có biết cần học cái gì nếu không có người thầy hướng 
dẫn? Con người cần phải khai phá để chắt lọc, tinh chế những thông tin đó thành 
các tri thức cần thiết cho con người; công việc đó chính là mục tiêu của một hướng 
nghiên cứu hết sức quan trọng và đầy hứa hẹn của ICT: khai phá dữ liệu (data 
mining). Như vậy, tự học đồng nghĩa với “khai phá dữ liệu” dưới sự hướng dẫn 
của thầy. 
 - “Tự học” gắn liền với tri thức: con người có năng lực tri thức không phải 
là con người được nhồi nhét nhiều tri thức một cách thụ động, mà phải là người 
biết tiếp thu chủ động tri thức qua việc học, biến tri thức học được thành tri thức 
của mình, biết cách tự mình tìm kiếm những tri thức mà mình muốn có, rồi từ đó 
có khả năng vận dụng những tri thức đã biết để tạo ra “tri thức mới” cần cho cuộc 
sống và hoạt động của mình. Để có năng lực tri thức đó, việc học sẽ chủ yếu phải 
là tự học, học liên tục và học suốt đời. Nhà trường không đặt cho mình mục tiêu 
cung cấp đủ kiến thức cho người học để sống và làm việc cả cuộc đời, mà trang bị 
cho người học một vốn tri thức cơ bản cộng với năng lực tự mình chủ động tìm 
kiếm những tri thức cần thiết trong suốt cuộc đời. 
 - Kết hợp Tự học (Self-study) với học nhóm (Groupstudy) và tự đánh giá 
(Self-assessment): Tự học sẽ được phát huy tác dụng tốt nếu biết kết hợp với học 
nhóm. Lợi ích của việc cùng học nhóm là thúc đẩy các thành viên chăm chỉ hơn. 
Sự ganh đua, hợp tác sẽ giúp mọi người cảm thấy việc giải một số lượng lớn các 
bài tập trong một thời gian ngắn đỡ nhàm chán hơn so với khi tự học làm bài tập 
một mình. Trong quá trình học nhóm, các thành viên trong nhóm thường xuyên 
thảo luận, trao đổi các kiến thức thu được qua tự học. Tại hội thảo về giáo dục của 
Liên Hiệp Quốc tổ chức ở Anh quốc, Trung tâm Thực nghiệm về đào tạo quốc gia, 
Đại học Maine - Mĩ đã công bố các nấc thang của “hình tháp” mức độ tiếp thu 
trong học tập như sau: nghe giảng (lecture) 5%; đọc (reading) 10%; nghe nhìn 
(audio visual) 20%; làm thí nghiệm (demonstration) 30%; thảo luận nhóm 
(discussion group) 50%; làm bài ở nhà, ghi lại, viết lại (practice by doing) 75%; 
dạy người khác (teach others/immediate use of learning) 90%. Như vậy, sau khi tự 
học rồi truyền đạt lại cho HS khác (teach others/immediate use of learning) trong 
nhóm là một cách hiểu bài tốt nhất trong tất cả các cách của nấc thang “hình tháp”. 
 16 
 Chương 2 – Thực trạng về NLTH của học sinh trường THPT Đô Lương 2 
 trong thời đại chuyển đổi số 
 2.1. Khái quát về địa bàn và mẫu phiếu khảo sát 
 Trường THPT Đô Lương 2 được thành lập năm 1965, hiện trường đóng ở 
xóm 4, xã Lam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Cội nguồn của trường THPT 
Đô Lương 2 là ngôi trường chung cấp 3 Anh Sơn được thành lập năm 1959. Đến 
ngày 19 tháng 4 năm 1963, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ huyện Anh 
Sơn cũ chia thành huyện Đô Lương và huyện Anh Sơn, trường đổi tên thành cấp 3 
Đô Lương. Năm học 1964 -1965, một số lớp chuyển về Bạch Ngọc thành phân 
hiệu 2. Năm học 1965 - 1966, để đáp ứng nhu cầu dạy học, phát triển văn hóa giáo 
dục các xã miền núi Ủy ban nhân dân Tỉnh Nghệ An quyết định phát triển phân 
hiệu 2 thành trường cấp 3 Đô Lương 2. 
 Trải qua hơn nửa thế kỉ xây dựng và phát triển, quy mô của trường được mở 
rộng, số lớp học tăng lên từ 12 lên 15 rồi 18 lớp. Cho tới ngày hôm nay, ngôi 
trường tới 36 lớp gồm 1331 học sinh, trong đó số học sinh nữ là 638 học sinh 
(chiếm 47,93%), số học sinh nam là 693 học sinh (52,07%). Hội đồng nhà trường 
từ 24 cán bộ công nhân viên, hiện nay lên đến gần 100 cán bộ nhân viên. Học sinh 
theo học tại trường đa số là ở các xã Ngọc Sơn, Lam Sơn, Bồi Sơn, Bài Sơn, Giang 
Sơn, Hồng Sơn, Nam Sơn, đó là các xã có điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn 
của huyện, trình độ dân trí còn thấp. 
 Tự học ở đối tượng học sinh (HS) tại trường trung học phổ thông (THPT) có 
một số điểm khác so với tự học với đối tượng đã trưởng thành. Do các em vẫn 
đang trong quá trình trang bị vốn kiến thức, kĩ năng nên tự học ở đây gắn liền với 
hướng dẫn tỉ mỉ của giáo viên, được chỉ định bài học, được định hướng bằng hệ 
thống câu hỏi gợi mở, được đánh giá bằng việc kiểm tra của giáo viên qua việc cho 
điểm, kiểm tra sổ tích lũy, chấm bài viết... Hoạt động tự học xuất hiện với nhiều 
hình thức: học ở nhà, tự học qua trao đổi với giáo viên, trao đổi với bạn bè, đặc 
biệt là tự học, tự tìm tòi trên nguồn kiến thức khổng lồ trên Internet. 
 2.2. Thực trạng về NLTH của học sinh trường THPT Đô Lương 2 trong 
thời đại chuyển đổi số 
 2.2.1. Tổ chức khảo sát thực trạng 
 - Mục đích khảo sát: Xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc thiết kế và sử dụng 
các giải pháp nâng cao năng lực tự học cho HS trong thời đại chuyển đổi số ở 
trường THPT. 
 - Đối tượng khảo sát: GV và HS trường THPT Đô Lương 2 nơi chúng tôi 
công tác. 
 - Nội dung khảo sát: 
 + Đánh giá thực trạng năng lực tự học của HS trong bối cảnh 4.0 và mức độ 
ảnh hưởng của những yếu tố khác nhau đến năng lực tự học của HS. 
 17 
 + Phân tích một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên ở trường THPT 
 - Phương pháp khảo sát: Đánh giá thực trạng chúng tôi đã làm bằng các 
phiếu đánh giá online thông qua nền tảng Google Form kết hợp với phỏng vấn sâu. 
 - Thời gian khảo sát: Tháng 9 năm 2021 
 2.2.2. Kết quả khảo sát thực trạng 
 2.2.2.1. Đối với học sinh 
 Chúng tôi đã khảo sát học sinh ở ba khối 10, 11, 12 ở trường THPT Đô 
Lương 2 cho thấy với 681 em HS thực hiện bằng hệ thống câu hỏi thông qua phiếu 
khảo sát (link khảo sát): kết hợp với 
phỏng vấn sâu chúng tôi thu được kết quả như sau: (Xem phụ lục 1- Câu hỏi khảo 
sát HS về thực trạng) 
 a) Nhận thức của HS về vai trò của tự học 
 Học sinh muốn tự học và tự học có kết quả cao thì bản thân các em phải có 
nhận thức đúng đắn về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động tự học. Có nhận 
thức đúng thì HS mới xây dựng được thói quen và tự học tốt. 
 Bảng 2.1: Ý kiến của học sinh về vai trò của tự học 
 Mức độ Điểm Xếp 
 TT Vai trò của tự học trung thứ 
 Rất đồng ý Đồng ý (2) Không đồng 
 bình tự 
 (3) ý (1) 
 SL t SL % SL % 
 1 Giúp HS củng cố tri thức 605 8,93 75 11,07 0 0,0 2,88 1 
 2 Giúp HS nắm vững tri 556 1,81 117 17,19 7 1,0 2,80 3 
 thức 
 3 Giúp HS mở rộng tri thức 392 7,70 137 20,15 151 22,15 2,35 7 
 4 Giúp HS phát huy tính tích 426 2,64 238 34,98 16 2,38 2,60 5 
 cực, chủ động trong học 
 tập 
 5 Giúp HS tự giác học tập 558 2,01 117 17,19 5 0,8 2,81 2 
 6 Giúp HS sáng tạo học tập 477 6,08 75 11,06 128 12,86 2,63 4 
 7 Giúp HS hình thành 292 2,88 368 54,15 20 2,97 2,39 6 
 phương pháp học tập tốt 
 8 Giúp HS hình thành động 153 2,52 243 35,77 284 41,69 1,80 3 
 cơ học tập 
 9 Rèn luyện khả năng tư duy 300 4,07 283 41,69 97 14,22 2,29 8 
 10 Rèn luyện khả năng ứng 227 3,39 302 44,46 151 22,13 2,11 9 
 phó với tình huống có vấn 
 đề 
 (Nguồn từ khảo sát trên Google forms) 
 Từ số liệu cho thấy vai trò của tự học ở mức độ cao điểm trung bình từ 2,5-
3,0, có vai trò được HS đồng ý đó là: giúp HS cung cố trí thức (ĐTB 2,88); giúp 
HS tự giác trong học tập (ĐTB 2,81); giúp HS nắm vững tri thức (ĐTB 2,80); giúp 
 18 
HS sáng tạo trong học tập (ĐTB 2,63); giúp HS phát huy tích cực học tập (ĐTB 
2,60). Các vai trò còn lại đều được HS đánh giá ở mức độ trung bình bao gồm: 
giúp HS hình thành phương pháp học tập tốt (ĐTB 2,39); giúp HS mở rộng kiến 
thức (ĐTB 2,35); rèn luyện khả năng tư duy ở HS (ĐTB 2,29); rèn luyện khả năng 
ứng phó tình huống khi có vấn đề (ĐTB 2,11); giúp HS hình thành và phát triển 
nhân cách (2,02). Đặc biệt, các em đánh giá thấp việc tự học hình thành ở HS động 
cơ học tập tốt với ĐTB là 1,80. 
 b)Thực trạng về nhu cầu, động cơ hứng thú học tập của HS 
 Biểu đồ 2.1: Ý kiến của học sinh về động cơ, hứng thú học tập 
 (Biểu đồ trích xuất trên Google forms) 
 Qua khảo sát kết quả cho thấy việc HS chọn tầm quan trọng của việc học tập 
là quan trọng và rất quan trọng, tuy nhiên động cơ học tập để tiếp thu kiến thức để 
đạt kết quả cao có thể phục vụ cho công việc tương lai chưa nhiều chủ yếu lựa 
chọn vì làm hài lòng bố mẹ. Như vậy còn một số bộ phận không nhỏ các em chưa 
có động cơ học tập rõ ràng, chính vì lí do đó mà các em thấy việc kết quả học tập 
chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn. 
 c) Thực trạng hình thức tự học ở nhà của HS 
 Bảng 2.2: Ý kiến của học sinh về hình thức tự học ở nhà 
 Mức độ Điểm Xếp 
 TT Hình thức học tập ở trung thứ 
 nhà Rất thường Thường Không bao bình tự 
 xuyên (3) xuyên (2) giờ (1) 
 TS % TS % TS % 
 1 Học một mình 545 80,21 121 17,78 14 2,01 2,83 1 
 2 Học thầy/cô dạy kèm 163 23,91 366 53,75 151 22,33 1,42 3 
 3 Học với người thân 36 5,33 120 17,58 524 77,07 1,28 4 
 cha/mẹ/anh/chị 
 4 Học với nhóm bạn 148 21,76 429 63,13 103 15,11 2,08 2 
 (Nguồn từ khảo sát trên Google forms) 
 19 
 Kết quả điều tra cho thấy, số lượng HS chọn hình thức học tập một mình tại 
nhà chiếm đa số (ĐTB 2,83-xếp hạng 1). Nếu không, đa số các em chọn nhóm bạn 
để cùng học tập ( ĐTB 2,08 xếp hạng 2). Lý giải cho câu hỏi tại sao có sự lựa chọn 
này, các em trả lời rằng do người thân không có thời gian học tập cùng các em. 
Một lý do khác là do HS còn phải đi học thêm nhà thầy cô (trả lời phỏng vấn, có 
69% HS cho biết có học thêm) nên không có thời gian học cùng bạn. Ngoài ra, các 
em còn chọn hình thức học cùng bạn để dễ trao đổi, dễ mượn sách tham khảo hoặc 
đơn giản là vì đỡ ngại hơn việc nhờ thầy cô. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là số 
lượng 524 HS (chiếm 77.07%) trả lời không bao giờ học cùng người thân bởi 
người thân ít có điều kiện (về thời gian, về kiến thức, ) để giúp các em học tập. 
Điều này nói lên mức độ quan tâm đầu tư cho việc học của con em ở nhiều gia 
đình trên địa bàn là đáng lo ngại. Thống kê về nghề nghiệp của bố mẹ HS cho thấy 
do đặc thù nghề nghiệp, phần lớn bố mẹ HS ít có điều kiện về kiến thức, thời gian 
để chăm lo việc tự học của con mình. 
 d) Thực trạng xây dựng kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả tự học của 
học sinh 
 Bảng 2.3: Ý kiến của học sinh về năng lực tự học 
 Rất thường Thường Thỉnh Không bao 
 Các hoạt động xuyên (4) xuyên (3) thoảng (2) giờ (1) Điểm 
 trung 
 SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ bình 
 Xây dựng mục tiêu kế 
 hoạch học tập trong môi 8 1,4 % 63 11,2 % 212 37, 8% 278 49,6 % 1,65 
 trường chuyển đổi số 
 Lựa chọn được phương 
 pháp học phù hợp trong 8 1,6 % 71 12,7 % 192 34,5 % 285 51,2 % 1,64 
 thời đại chuyển đổi số. 
 Xác định được thời gian 16 2,9 % 75 13,6 % 158 28,7 % 302 54,8 % 1,65 
 biểu cho các hoạt động 
 Tìm kiếm được nguồn tài 
 liệu nhanh chóng phù hợp 13 2,4 % 97 17,5 % 145 26,1 % 300 54,0 % 1,68 
 với nội dung cần học 
 Phân tích xử lí kiến thức 9 2,7 % 83 15,0 % 188 33,9 % 274 49,4 % 1,69 
 tìm hiểu được 
 Vận dụng các kiến thức 
 đã tự tìm hiểu giải quyết 11 2,1 % 92 16,5 % 158 28,4 % 295 53,5 % 1,67 
 các vấn đề học tập liên 
 quan 
 Tự kiểm tra đánh giá kiến 18 3,3 % 81 14,5 % 184 33,1 % 273 49,1 % 1,72 
 thức của bản thân 
 Rút ra được bài học phục 14 2,6 % 88 16,0 % 148 26,9 % 300 54,5 % 1,66 
 vụ cho lần sau 
 (Nguồn từ khảo sát trên Google forms) 
 20 

File đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_giai_phap_nang_cao_nang_luc_tu_hoc_cho_hoc_sinh.pdf