SKKN Một số biện pháp ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong công tác quản lý và giảng dạy tại Trường Tiểu học Phong Vân

Đất nước Việt Nam đang hòa nhập và phát triển với một nền kinh tế tri thức và một xã hội công nghệ thông tin đầy thử thách. Sự phát triển như vũ bão của ngành khoa học và công nghệ đã đem lại những thành tựu to lớn trong mọi hoạt động của con người, bên cạnh sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ đòi hỏi con người phải đa năng, có khả năng xử lý các vấn đề phát sinh trong cuộc sống một cách nhanh chóng, có hiệu quả. Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT) và hiệu quả to lớn của nó. Nhà nước, Chính phủ và ngành giáo dục đã có các văn bản chỉ thị đối với việc ứng dụng CNTT và chuyển đổi số vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và phát triển ngành giáo dục nói riêng.

Những năm gần đây, ngành giáo dục rất quan tâm đến việc ứng dụng CNTT vào hoạt động quản lý và giảng dạy. Việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lí nhà trường từ hoạt động giảng dạy của giáo viên - học đến học tập của học sinh cũng dần thay đổi từ phương pháp truyền thống sang hiện đại, giúp người quản lý phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo, sự chủ động và đạt hiệu quả. Từ mô hình quản lý các lớp học tập trung đã dần chuyển sang các mô hình trực tuyến, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ các hoạt động. Qua đó, người quản lý có thể tiếp cận tri thức mọi nơi, mọi lúc, chủ động và nhanh chóng. Sự bùng nổ về công nghệ giáo dục đã, đang và sẽ tạo ra những phương thức giáo dục phi truyền thống, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền giáo dục mang tính chuyển đổi sâu sắc vì con người.

Ngày 03/6/2021, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 749/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Theo đó, Giáo dục là lĩnh vực được ưu tiên chuyển đổi số thứ 2 sau lĩnh vực Y tế. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của giáo dục và chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng, không chỉ đối với ngành mà còn tác động rất lớn đối với đất nước

Ngày 25/01/2022 Quyết định 131/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số (CĐS) trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030". Mục tiêu cụ thể của Đề án đến năm 2025, đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức giáo dục, đưa dạy và học trên môi trường số trở thành hoạt động giáo dục thiết yếu, hàng ngày đối với mỗi nhà giáo, mỗi người học.

Trong Giáo dục và đào tạo CNTT và CĐS đã góp phần hiện đại hoá phương tiện, thiết bị dạy học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Chuyển đổi số trong giáo dục sẽ đổi mới cách thức giảng dạy truyền thống hướng tới phổ cập hoá và cá nhân hoá dịch vụ học tập suốt đời tới từng người học. Nâng cao hiệu quả và hiệu lực của quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Với mong muốn đóng góp sức lực của mình nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện công cuộc chuyển đổi số của ngành giáo dục nói chung, cũng như chuyển đổi số trong cuộc sống xã hội, tôi đã nghiên cứu và thực hiện đề tài “Một số biện pháp ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong công tác quản lý và giảng dạy tại trường Tiểu học Phong Vân”. Tôi mong muốn với đề tài này, sẽ góp một phần bé nhỏ của bản thân vào việc nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh nói chung, học sinh trường TH Phong Vân nói riêng một cách hiệu quả nhất.

docx 21 trang Giang Thanh 28/11/2025 3520
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong công tác quản lý và giảng dạy tại Trường Tiểu học Phong Vân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong công tác quản lý và giảng dạy tại Trường Tiểu học Phong Vân

SKKN Một số biện pháp ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong công tác quản lý và giảng dạy tại Trường Tiểu học Phong Vân
 1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến:
 Đất nước Việt Nam đang hòa nhập và phát triển với một nền kinh tế tri thức và một xã 
hội công nghệ thông tin đầy thử thách. Sự phát triển như vũ bão của ngành khoa học và công 
nghệ đã đem lại những thành tựu to lớn trong mọi hoạt động của con người, bên cạnh sự phát 
triển không ngừng của khoa học công nghệ đòi hỏi con người phải đa năng, có khả năng xử 
lý các vấn đề phát sinh trong cuộc sống một cách nhanh chóng, có hiệu quả. Đứng trước sự 
phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT) và hiệu quả to lớn của nó. Nhà nước, 
Chính phủ và ngành giáo dục đã có các văn bản chỉ thị đối với việc ứng dụng CNTT và 
chuyển đổi số vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và phát triển ngành 
giáo dục nói riêng.
 Những năm gần đây, ngành giáo dục rất quan tâm đến việc ứng dụng CNTT vào hoạt 
động quản lý và giảng dạy. Việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lí nhà trường từ hoạt 
động giảng dạy của giáo viên - học đến học tập của học sinh cũng dần thay đổi từ phương 
pháp truyền thống sang hiện đại, giúp người quản lý phát huy được khả năng tư duy, sáng 
tạo, sự chủ động và đạt hiệu quả. Từ mô hình quản lý các lớp học tập trung đã dần chuyển 
sang các mô hình trực tuyến, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ các hoạt 
động. Qua đó, người quản lý có thể tiếp cận tri thức mọi nơi, mọi lúc, chủ động và nhanh 
chóng. Sự bùng nổ về công nghệ giáo dục đã, đang và sẽ tạo ra những phương thức giáo dục 
phi truyền thống, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền giáo dục mang tính chuyển đổi sâu 
sắc vì con người.
 Ngày 03/6/2021, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 749/QĐ-TTg về việc phê 
duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. 
Theo đó, Giáo dục là lĩnh vực được ưu tiên chuyển đổi số thứ 2 sau lĩnh vực Y tế. Điều đó 
cho thấy tầm quan trọng của giáo dục và chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục đóng vai trò 
hết sức quan trọng, không chỉ đối với ngành mà còn tác động rất lớn đối với đất nước
 Ngày 25/01/2022 Quyết định 131/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Tăng cường ứng dụng 
công nghệ thông tin và chuyển đổi số (CĐS) trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, 
định hướng đến năm 2030". Mục tiêu cụ thể của Đề án đến năm 2025, đổi mới mạnh mẽ 
phương thức tổ chức giáo dục, đưa dạy và học trên môi trường số trở thành hoạt động giáo 
dục thiết yếu, hàng ngày đối với mỗi nhà giáo, mỗi người học.
 Trong Giáo dục và đào tạo CNTT và CĐS đã góp phần hiện đại hoá phương tiện, thiết 
bị dạy học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Chuyển đổi số trong giáo dục sẽ đổi 
mới cách thức giảng dạy truyền thống hướng tới phổ cập hoá và cá nhân hoá dịch vụ học tập 
suốt đời tới từng người học. Nâng cao hiệu quả và hiệu lực của quản lý nhà nước trong lĩnh 
vực giáo dục và đào tạo. Với mong muốn đóng góp sức lực của mình nhằm nâng cao chất 
lượng giáo dục thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện công cuộc chuyển 2
đổi số của ngành giáo dục nói chung, cũng như chuyển đổi số trong cuộc sống xã hội, tôi đã 
nghiên cứu và thực hiện đề tài “Một số biện pháp ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong 
công tác quản lý và giảng dạy tại trường Tiểu học Phong Vân”. Tôi mong muốn với đề tài 
này, sẽ góp một phần bé nhỏ của bản thân vào việc nâng cao chất lượng giáo dục cho học 
sinh nói chung, học sinh trường TH Phong Vân nói riêng một cách hiệu quả nhất.
2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến.
- Quản lý chất lượng giáo dục của học sinh trong giai đoạn dạy học trực tuyến và trực tiếp tại 
Tiểu học Phong Vân.
- Tiến tới đồng bộ hóa khâu quản lí các hoạt động của nhà trường trong giai đoạn chuyển đổi 
số, hiện đại hóa.
- Nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh qua chuyển đổi số.
- Đưa ra những giải pháp khắc phục, phát huy tính tích cực của chuyển đổi số trong công tác 
quản lí của cá nhân.
3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
3.1 Thời gian nghiên cứu.
Năm học 2021-2022, Năm học 2022-2023 và năm học 2023-2024.
3.2 Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu ứng dụng CNTT, chuyển đổi số trong công tác quản lý và công tác giảng dạy tại 
Tiểu học Phong Vân, Ba Vì, Hà Nội.
3.3 Phạm vi nghiên cứu.
- Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong trường Tiểu học.
- Nghiên cứu Gmail của trường, của PGDĐT, Zalo nhóm trong nhà trường.
- Nghiên cứu hệ thống Website, kho học liệu điện tử của trường.
- Nghiên cứu cơ sở dữ liệu ngành giáo dục
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Hiện trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác quản lý 
và giảng dạy
1.1 Vài nét về trường Tiểu học Phong Vân.
 Trường Tiểu học nơi tôi công tác là một trong các trường thuộc khu vực ven sông Hồng 
của huyện Ba Vì. Được sự quan tâm của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương trường 
CSVC được đầu tư đồng bộ điều kiện, chất lượng dạy và học được nâng cao, nhà trường đã 
được cải tạo, đầu tư xây dựng CSVC. Đến nay, nhà trường đã trở thành một ngôi trường 
khang trang, hiện đại với 01 dãy nhà hai tầng và 02 dãy nhà ba tầng có 67 phòng gồm: Khối 
phòng hành chính quản trị, khối phòng học tập, khối phòng hỗ trợ học tập, khối phòng phụ 
trợ, khu vui chơi thể dục thể thao Các phòng học đều có máy tính, có tivi kết nối mạng thuận 
lợi cho việc dạy và học của nhà trường.
 Trường có 37 CB,GV, NV trong đó: (Quản lý: 02 đ/c, nhân viên văn phòng: 04 đ/c, Giáo 3
viên: 28 đ/c, HĐ 03. CBGV nhân viên đạt chuẩn trở lên, nhiệt tình trong công tác, đoàn kết 
và phối hợp tốt trong thực hiện nhiệm vụ.
*Ưu điểm:
 Trong những năm gần đây việc ứng dụng CNTT trong các nhà trường được Phong giáo 
dục chú trong: Kế hoạch thực hiện năm học hàng năm của Phòng giáo dục và đào tạo đều đề 
cập đến nhiệm vụ ứng dụng CNTT và chuyển đổi số. Bộ phận chỉ đạo CNTT của PGDĐT đã 
có kế hoạch chỉ đạo cụ thể, đưa việc ứng dụng CNTT, công tác chuyển đổi số của các trường 
vào công tác thi đua khen thưởng.
 Trường Tiểu học Phong Vân được sự quan tâm của Phòng Giáo dục Ba Vì, Đảng ủy, 
Chính quyền xã Phong Vân, các ban ngành, đoàn thể trong xã và nhà trường, nhất là sự phối 
hợp chặt chẽ giữa ban đại diện phụ huynh học sinh với nhà trường. Đội ngũ cán bộ giáo viên 
nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp, chăm lo công việc tập thể như việc của gia đình; có 
tinh thần đoàn kết và giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ. Trường Tiểu học Phong Vân vừa 
được công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2 (năm 2023), trường Tiểu học Phong 
Vân là một trong những trường có nhiều khó khăn trong công tác giáo dục, xong những năm 
gần đây chất lượng giáo dục của nhà trường ngày càng khởi sắc. Việc ứng dụng công nghệ 
thông tin và chuyển đổi số trong quản lý và dạy học cũng được đặc biệt quan tâm, từ việc 
xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị, bổ sung và sửa chữa, lắp thêm mạng Internet... ( 
đến tháng 4 năm 2023 tất cả các phòng học đã có máy tính, ti vi, và kết nối mạng Internet có 
dây, không dây cho tất cả các thiết bị trong nhà trường); Tổ chức, tham gia các chuyên đề, 
tập huấn các phần mềm dạy học , tập huấn CSDL... (100% cán bộ, GV, nhân viên tham gia 
tập huấn)
*Nhược điểm:
- Khả năng sử dụng CNTT của một số giáo viên, nhân viên gặp nhiều hạn chế dẫn đến việc 
phát huy ứng dụng CNTT gặp rất nhiều khó khăn.
 Số hóa, xây dựng, cập nhật học liệu số, thẩm định, chia sẻ học liệu số đòi hỏi sự đầu tư 
lớn về nhân lực (gồm cả nhân lực quản lý và nhân lực triển khai) cũng như tài chính để đảm 
bảo khai thác học liệu số đạt chất lượng, đáp ứng yêu cầu học tập, nghiên cứu, tham khảo 
của giáo viên và học sinh. Vì vậy hiện nay, vấn đề khai thác học liệu số (như sách điện tử, 
thư viện điện tử, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, bài giảng điện tử, phần mềm học liệu điện 
tử...) còn mang tính tự phát, chưa thành hệ thống, khó kiểm soát chất lượng và nội dung học 
tập. 4
1.2Chất lượng học sinh trước khi thực hiện đề tài.
- Chất lượng giáo dục năm 2022-2023:
 Tổng số họ Chưa hoàn 
 Hoàn thành tốt Hoàn thành
 TT Môn học sinh được thành
 đánh giá SL % SL % SL %
 1 Tiếng Việt 587 321 54.7 265 45.1 1 0.2
 2 Toán 587 367 62.5 218 37.2 2 0.3
 3 Đạo đức 587 378 64.4 209 35.6 0
 4 Tự nhiên và XH 322 208 64.6 114 35.4
 5 Khoa học 265 165 62.3 99 37.3 1 0.4
 6 Lịch sử và Địa lý 265 106 40.0 158 59.1 1 0.4
 7 Âm nhạc 587 324 55.2 263 44.8
 8 Mĩ thuật 587 328 55.9 259 44.1
 9 Kỹ thuật, CN 373 246 66.0 127 34.0
 10 Tin học 108 79 73.1 29 26.9
 11 Thể dục (GDTC) 587 356 60.6 241 39.4
 12 HĐTN 322 208 64.6 114 35.4
 13 Ngoại ngữ 373 189 50.7 182 48.8 2 0.5
- Chất lượng và số lượng thi vioedu
 Số HS tham gia thi Số HS tham gia 
 Năm học Số học sinh đạt giải cấp huyện
 voedu cấp trường voedu cấp huyện
 05 giải trong đó có:
2021-2022 60 8
 01 giải nhì, 01 giải ba và 03 KK.
 07 giải trong đó có:
2022-2023 115 10
 01 giải nhì, 03 giải ba và 03 KK.
1.3 Hiện trạng và vấn đề ứng dụng CNTT và CĐS trong quản lý và dạy học tại nhà 
trường.
* Nhận thức của giáo viên.
 Nhận thức và khả năng tiếp cận, ứng dụng các phần mềm về CNTT của một bộ phận 
CB,GV,NV còn hạn chế. Cụ thể:
 Nhiều giáo viên, nhân viên ngại khó, ngại khổ khi tiếp cận và ứng dụng CNTT trong 
công việc của mình cũng như nhà trường, không muốn học hỏi và cũng không thấy được lợi 
ích thực sự của nó do chưa hiểu hết, trong khi đó tốn kém rất nhiều cho đầu tư ban đầu về 
học tập, mua máy tính, máy in, phí kết nối mạng Internet và các chi phí kèm theo. Nhà 
trường nhiều giáo viên tuổi cao không đáp ứng yêu cầu cho chuyển đổi số (tuổi bình quân 5
của cán bộ giáo viên cao, 1/2 trên tổng số giáo viên của nhà trường trên 40 tuổi).
 Chính từ việc giảng dạy thông qua các phần mềm, dạy trình chiếu PowerPoint 
Presentation... đòi hỏi người thầy giáo phải mất nhiều thời gian truy cập, học hỏi, tìm tòi các 
nội dung kiến thức ứng dụng vào bài dạy, điều kiện công tác của mình. vẫn còn giáo viên 
ngại thay đổi.
* Cơ sở hạ tầng.
- Hạ tầng mạng, trang thiết bị CNTT, đường truyền, dịch vụ Internet cho nhà trường, giáo 
viên, học sinh ổn định, đồng bộ, nhiều gia đình học sinh có máy tính kết nối Internet.
- Hệ thống máy móc mới nên vận hành tốt, đường truyền mạng không ổn định, kỹ năng xử lí 
của cán bộ giáo viên chưa thành thạo nên khi thực hiện không thực hiện được ý tưởng của 
mình làm cho hiệu quả công việc, tiết dạy thấp.
 - Khi lưu trữ các nội dung chưa khoa học, khó tìm kiếm, tài liệu không được mã hoá nên 
khi có sự cố khó khắc phục, tìm kiếm. Nhiều tính năng từ máy tính chưa được khai thác nên 
sử dụng còn nhiều bất cập.
 Nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học và công tác quản lý nhà trường lại đặt ra cho 
cán bộ, giáo viên yêu cầu phải sử dụng máy tính, ứng dụng CNTT trong mọi hoạt động, triển 
khai phần mềm quản lý trường học trực tuyến, kết nối nhà trường với phụ huynh, sử dụng sổ 
điểm điện tử, học bạ điện tử,...Tham gia các hệ thống CNTT như: PCGD XMC, EMIS, 
EQMS, triển khai quản lý hành chính điện tử; Cơ sở dữ liệu ngành Giáo dục; phần mềm phổ 
cập ...; Các ứng dụng: Email; Zalo ...; Các phần mềm dạy học, hội họp trực tuyến: Zoom; 
Teams; hoặc Google Meet trên ứng dụng Gmail... tích cực triển khai dịch vụ công trực tuyến 
(phục vụ phụ huynh, học sinh, giáo viên, ..); xét tuyển đầu cấp; kết nối nhà trường - phụ 
huynh. Sử dụng một số phần mềm thấy hiệu quả khi thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao: 
tiện lợi, nhanh, khoa học và chính xác. Đặc biệt từ năm học 2023-2024, , trường Tiểu học 
Phong Vân đã đặt nền móng cho công cuộc chuyển đổi số bước đầu đáp ứng mục đích đề ra. 
Sau hai năm thực hiện, nhà trường xác định Chuyển đổi số là cơ hội lớn song cũng không ít 
những thách thức đặt ra cho những năm học tiếp theo.
2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề
* Biện pháp 1: Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động.
 Người cán bộ quản lý phải thông suốt về nhận thức sự cần thiết phải ứng dụng công nghệ 
thông tin, chuyển đổi số trong quản lý và dạy học ở trường.
 - Chỉ có ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học ở trường mới có thể đưa 
nhà trường phát triển một cách toàn diện, nâng cao được chất lượng giáo dục một cách vững 
chắc, đáp ứng được yêu cầu hiện nay.
- Bản thân người cán bộ quản lý phải nhận thức đúng đắn và có thái độ học tập, tìm hiểu, tích 
lũy kinh nghiệm nghiêm túc mới có thể tổ chức thực hiện thành công việc ứng dụng công 
nghệ thông tin trong quản lý và dạy học ở trường Tiểu học. Tránh tư tưởng ngại khó khi thấy 6
yêu cầu quá cao, đồng thời cũng tránh tư tưởng nóng vội, khi mình chưa đủ điều kiện.
- Khi nhận thức đúng và có quyết tâm thì mọi khó khăn có thể từng bước tháo gỡ và đi đến 
thành công.
 Vận động giáo viên tự học hỏi, nâng cao trình độ tin học, ứng dụng CNTT vào công việc 
là một việc làm thiết thức mang tính thực tiễn, có tính hợp lý, đáp ứng nhu cầu giáo dục nên 
mọi người đồng tình hưởng ứng.
 - Mặt khác, cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động mọi người cùng nhận thức đúng 
và thực hiện: Bất cứ công việc gì nếu không có sự đồng lòng đồng sức của mọi người liên 
quan sẽ khó thành công. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học ở 
trường Tiểu học là việc làm khó khăn lại càng rất cần công sức và trí tuệ của tập thể. Bởi 
vậy, cần làm tốt công tác vận động, tuyên truyền về sự cần thiết việc ứng dụng công nghệ 
thông tin trong quản lý và dạy học ở trường Tiểu học không những trong cán bộ giáo viên 
mà trong cả các tổ chức, các ban ngành, nhân dân, các bậc phụ huynh và học sinh.
 - Tuyên truyền với các đối tượng ngoài trường là tranh thủ sự ủng hộ về vật chất cũng 
như tinh thần, phối hợp công tác tốt hơn. Đó là công việc không thể thiếu. Tuy nhiên, các đối 
tượng trong trường là những người trực tiếp thực hiện càng phải được tuyên truyền tốt nhất. 
Khi mọi người thấy rõ sự cần thiết và lợi ích cũng như tác dụng của một trường chuẩn quốc 
gia thì mới tự giác, đồng lòng đồng sức tổ chức thực hiện có kết quả.
*Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch chỉ đạo.
 Xây dựng kế hoạch là bước quan trọng có tính quyết định sự thành công hoặc thất bại của 
mọi công việc. Để xây dựng được kế hoạch có tính khả thi và thực hiện có hiệu quả thì phó 
hiệu trưởng phải là người tham mưu, cùng với Hiệu trưởng:
- Nghiên cứu các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm 
học của cấp trên, quy định và yêu cầu việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi trong 
quản lý và dạy học ở trường Tiểu học .
 Điều tra nắm rõ tình hình, các điều kiện có liên quan đến việc ứng dụng công nghệ thông 
tin; chất lượng đội ngũ CBGV, nhân viên; Tình hình học tập của học sinh; Điều kiện về cơ 
sở vật chất, thiết bị của Nhà trường; Công tác xã hội hoá Giáo dục ở địa phương...
 Sau khi nắm kỹ tình hình và các điều kiện, cần dự báo được khả năng thực hiện, các 
nguồn đầu tư về tài chính, tranh thủ ý kiến của tập thể để chọn những giải pháp tối ưu để đạt 
được kết quả cao và nhanh nhất.
*Khi xây dựng kế hoạch cần chú ý:
- Bám sát với kế hoạch chỉ đạo của phòng Giáo dục, của cấp trên.
- Trong các nội dung đầu tư điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy 
học ở trường Tiểu học, nội dung nào cần được ưu tiên, nội dung nào phải tập trung các 
nguồn lực để có thể xây dựng thành công...
 Phân công trách nhiệm cho các thành viên trong tổ CNTT từng công việc cụ thể, tránh 7
hình thức, chung chung.
- Định rõ thời gian, phải thực hiện và hoàn thành từng nội dung trong kế hoạch, cụ thể hoá 
các công việc đó trong kế hoạch hàng tuần, tháng, học kỳ hoặc năm.
- Chọn những giải pháp khả thi, cụ thể; không làm kế hoạch với những giải pháp không phù 
hợp.
* Biện pháp 3: Các giải pháp đầu tư xây dựng cơ sở vật chất (CSVC)
Đầu tư kinh phí mua sắm, bổ sung CSVC, thiết bị.
- Đầu tư từ nguồn quỹ học phí: Đây là nguồn thu do trường chủ động chi, cần dành phần chi 
thích đáng cho việc mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ công việc ứng dụng công nghệ 
thông tin trong quản lý và dạy học ở trường.
- Sử dụng định mức cho phép của ngân sách được bố trí hàng năm.
- Tuyên truyền vận động xã hội hóa giáo dục. Phụ huynh học sinh tự nguyện đóng góp mua 
sắm máy móc thiết bị, bảo dưỡng và sửa chữa... Đây là nguồn thu có tính chất tự nguyện để 
cùng với nhà trường phát triển máy tính trong từng năm.
- Vận động CBGV tự mua thêm máy tính, kết nối mạng Internet ở nhà để học tập, nghiên 
cứu.
* Biện pháp 4 : Sử dụng, bảo quản thiết bị hiệu quả.
 Đây là vấn đề quan trọng và không dễ thực hiện, bởi đầu tư nhiều nhưng không sử dụng 
được hoặc thiếu sự bảo quản thì không đem lại kết quả và mất lòng tin. Bởi vậy, điều quan 
trọng là người cán bộ quản lý phải biết tự học hỏi thêm để quản lý được các vấn đề này. Mặt 
khác, cần tính toán thật kỹ vấn đề duy trì các hoạt động này và phục vụ đắc lực cho việc thực 
hiện mục tiêu của nhà trường. Chẳng hạn:
- Nối mạng Internet cho tất cả các phòng học, phòng chức năng...
- Hướng dẫn, tập huấn cho CB,GV,NV cách sử dụng các thiết bị đúng và bảo đảm an toàn.
- Trang bị máy tính cho các đoàn thể, tổ chuyên môn, tổ văn phòng, phòng thiết bị, phòng 
thư viện ....
* Biện pháp 5: Bồi dưỡng đội ngũ.
 Trong tất cả các lực lượng tham gia xây dựng Nhà trường, có thể nói đội ngũ cán bộ, giáo 
viên và nhân viên Nhà trường giữ vai trò quyết định. Việc ứng dụng công nghệ thông tin 
trong quản lý và dạy học ở trường cần coi trọng công tác bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán 
bộ, giáo viên và nhân viên là tất yếu. Do vậy, để ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý 
và dạy học ở trường, việc xây dựng được đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên cần:
 - Xác định vai trò, tác dụng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và 
giảng dạy trong nhà trường.
 - Tăng cường bồi dưỡng đội ngũ (cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh) có kiến 
thức, kỹ năng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Trước hết là kỹ năng sử dụng CNTT, kỹ năng 
an toàn thông tin, kỹ năng khai thác, sử dụng hiệu quả các ứng dụng phục vụ công việc dạy - 8
học hàng ngày. Nhà trường chú trọng bồi dưỡng đội ngũ (cán bộ quản lý, giáo viên, nhân 
viên, học sinh) có kiến thức, kỹ năng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Trước hết là kỹ năng 
sử dụng CNTT, kỹ năng an toàn thông tin, kỹ năng khai thác, sử dụng hiệu quả các ứng dụng 
phục vụ công việc dạy - học hàng ngày.
 + Thành lập tổ CNTT trong nhà trường (1 cán bộ quản lý phụ trách, thành viên phải 
thành thạo, hiểu biết về CNTT, các tổ trưởng chuyên môn các tổ và giáo viên trẻ có khả năng 
CNTT làm cộng tác viên)
 + Thực hiện nghiêm túc việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ; coi trọng công tác tự bồi 
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tạo điều kiện cho giáo viên có thời gian tự học, tự bồi dưỡng, 
và tham gia học tập các lớp nâng cao trình độ, các lớp chuyên đề về chuyên môn nghiệp vụ; 
tạo điều kiện để cán bộ, giáo viên tiếp cận những công nghệ mới nhất.
 - Bên cạnh đầu tư sách báo, tài liệu nghiên cứu, các phương tiện nghe, nhìn về việc vận 
dụng CNTT. Nhà trường còn kết nối mạng Internet phủ khắp các phòng ban, lớp học phục 
vụ cho việc truy cập các thông tin cần thiết cho bài dạy, bài học.
 CB,GV,NV tham gia đầy đủ các lớp chuyên đề của các cấp nhất là các chuyên đề về 
CNTT. Nhà trưởng tổ chức các buổi chuyên đề ứng dụng các phần mềm dạy học, phần mềm 
đánh giá giáo viên, học sinh... Hiện nhà trường có 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên biết sử 
dụng máy tính. 100% giáo viên biết thiết kế bài giảng điện tử, biết sử dụng và khai thác các 
phần mềm dạy học trực tuyến như: Zoom, googlemeet, , Quizizz, googlefom. 100% giáo 
viên toàn trường sử dụng thành thạo CNTT; tham gia, đóng góp chia sẻ học liệu vào kho học 
liệu số của nhà trường và của ngành giáo dục; tham gia làm bài giảng điện tử e-learning có 
chất lượng, tham gia xây dựng ngân hàng đề, câu hỏi trắc nghiệm .. .góp phần xây dựng xã 
hội học tập và đẩy mạnh việc học tập suốt đời.
 Hình ảnh giáo viên nhân viên tập huấn chuyên đề CNTT 9
* Biện pháp 6: Chỉ đạo ứng dụng CNTT, CĐS trong công tác quản lý + Lưu trữ thông 
tin, báo cáo, số hóa.
 - Lưu trữ thông tin có tính kết nối, chia sẻ dữ liệu, kết nối quá khứ và hiện tại, xóa nhòa 
ranh giới về khoảng cách địa lý, thậm chí không gian và thời gian. Công tác lưu trữ và những 
người làm công tác lưu trữ cần: thay đổi tư duy nhận thức, kiến thức và kỹ năng công nghệ 
thông tin, kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin trong môi trường số. và đặc biệt là thách thức 
trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo quản lâu dài và xác thực tài liệu lưu trữ số trong tương lai. 
Trong nhà trường vai trò lưu trữ thông tin, báo cáo có ý nghĩa hết sức quan trọng
 - Góp phần quan trọng đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lý và giảng dạy trong nhà 
trường, cung cấp những tài liệu, tư liệu, số liệu đáng tin cậy, những thông tin, căn cứ phục vụ 
cho công tác quản lý giáo dục và giảng dạy trong nhà trường.
 Giúp cho cán bộ, giáo viên, nhân viên nâng cao hiệu suất công việc và giảng dạy và đáp 
ứng được các yêu cầu nhà trường và cấp trên. Hồ sơ tài liệu trở thành phương tiện theo dõi, 
kiểm tra, đánh giá công việc một cách có hệ thống.
 Tạo công cụ để kiểm soát việc thực hiện của giáo viên, học sinh trong nhà trường. Vì vậy 
việc tổ chức lưu trữ thông tin trên máy tính đòi hỏi theo một trật tự quy định, nhà trường có 
quy ước cho mọi thành viên trong nhà trường: Các thông tin lưu trữ trong ổ đĩa D. Xây dựng 
kho học liệu số, thư viện điện tử, sách giáo khoa điện tử, kho bài giảng e-learning.
 + Ứng dụng trong công tác quản lý.
 Ngay từ đầu năm học, BGH nhà trường đã triển khai số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu với 
tinh thần: Mọi bộ phận cần ứng dụng những kỹ năng đã được tập huấn về CNTT, chuyển đổi 
số để thực hiện hiệu quả công tác của mình.
 Nhà trường, các tổ chuyên môn, các đoàn thể trong nhà trường xây dựng các kế hoạch 
của mình thông qua địa chỉ Gmail, zalo để BGH nắm bắt, lưu trữ các bài giảng, các hoạt 
động của đoàn thể, tổ nhóm chuyên môn qua website và kho học liệu điện tử. Các thông tin 
báo cáo như sĩ số học sinh, kết quả 2 mặt giáo dục, tổng hợp điểm kiểm tra... được báo cáo 
qua trang tính Drive.
 Được sự chỉ đạo và tập huấn của PGD, nhà trường đã thành lập ban quản trị website với 
những thành viên tích cực, thường xuyên đưa tin về những hoạt động của nhà trường. Trong 
quá trình thực hiện công tác quản trị mạng, các thành viên đều từng bước cải tiến những 
thông tin và hình ảnh trên website sao cho ngày càng kịp thời và hiệu quả. Chính qua trang 
web này, đội ngũ giáo viên tại trường được Phòng giáo dục nắm bắt những thông tin cụ thể 
về tất cả các mảng hoạt động của nhà trường : chính quyền, chuyên môn, công đoàn, chi 
đoàn, đội, hội CMHS...
+ Về quản lý nhân sự và thực hiện thông tin 2 chiều:
 BGH nhà trường thường xuyên truy cập các thông tin qua Gmail, Zalo, facebook , 
website để kịp thời nắm bắt những văn bản chỉ đạo, kế hoạch, các hoạt động theo lịch công 10
tác của PGD... cũng như chỉ đạo hoạt động của nhà trường. Các thông tin, kế hoạch, chỉ đạo 
của nhà trường tới giáo viên được thông tin qua tin nhắn, zalo, gmail cá nhân...
Đối với các bộ phận trong nhà trường như : thư viện, thiết bị, tài chính - kế toán, Công đoàn, 
Chi đoàn, Đội cũng đẩy mạnh việc vận dụng CNTT, CĐS vào quá trình thực hiện công việc 
để tiết kiệm được thời gian mà hiệu quả lại tích cực (Soạn thảo văn bản, kế hoạch hoạt động, 
thể hiện chứng từ, sổ sách...lưu trữ hồ sơ, báo cáo) Nhận thức được những tiện ích mà 
CNTT, CĐS đã mang lại trong công việc, các bộ phận như : Công đoàn, Đoàn TNCS HCM 
và Đội TNTP HCM là những bộ phận chủ động và thường xuyên ứng dụng CNTT, CĐS vào 
quá trình công tác và đã đạt được những hiệu quả nhất định: Đối với công đoàn: Việc tổ 
chức tuyên truyền về nhận thức hỗ trợ tập huấn cho đội ngũ thường xuyên được triển khai và 
phổ biến dưới dạng trình chiếu: quy chế dân chủ cơ sở, tổ chức trực tuyến nhân các ngày lễ 
như : 20/10, 08/03.. 
Đối với chi đoàn: Thường xuyên truy cập mạng internet để lấy những hình ảnh và thông tin 
về Bác Hồ để thực hiện tốt nhật ký “Hành trình theo chân Bác!”.
Đối với hoạt động Đội: Được sự chỉ đạo trực tiếp của Hiệu trưởng, TPT Đội vừa là thành 
viên tham gia quản trị website của trường, vừa thường xuyên tra cứu vào các trang website 
trên mạng để lấy những thông tin thực hiện cho công tác tuyên truyền, giáo dục đạo đức cho 
học sinh: Tìm hiểu về ý nghĩa của các ngày lễ kỷ niệm trong tháng để sinh hoạt với học sinh 
vào mỗi thứ hai hàng tuần, thực hiện bảng tin Đoàn - Đội với những nội dung thiết thực như: 
đố vui ATGT, góc thư giãn; thân thế và sự nghiệp của Bác Hồ; những mẩu chuyện về Bác.
* Biện pháp 7: Chỉ đạo và ứng dụng CNTT, CĐS trong giảng dạy
 Trong việc đổi mới phương pháp dạy và học, vai trò của CNTT, CĐS đã thể hiện 
 ngày một rõ nét. Theo đó, đã triển khai các giải pháp lớp học điện tử, lớp học thông minh. 
 Tuy nhiên, việc này cần có lộ trình, cách thức thực hiện phù hợp.
 Để chỉ đạo triển khai ứng dụng CNTT, CĐS trong công tác chuyên môn đạt kết quả 
 cao, điều đầu tiên phải làm đó là phải giúp cho cán bộ, giáo viên thấy được vai trò to lớn 
 của CNTT, CĐS trong công tác chuyên môn của mình. Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, 
 cùng với bồi dưỡng trình độ Tin học, kỹ năng sử dụng máy vi tính, kỹ năng khai thác, áp 
 dụng các phần mềm vào soạn, giảng, quản lý học sinh là việc làm quan trọng và cần thiết 
 với mỗi cán bộ, giáo viên trong nhà trường. Việc tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn các 
 thành viên sử dụng máy tính, khai thác ứng dụng phần mềm, tham khảo các bài dạy qua 
 kho học liệu hay tích cực tham gia các cuộc thi do Bộ, Sở, Phòng giáo dục tổ chức là điều 
 cần thiết và có hiệu quả trong việc đưa CNTT, CĐS vào công tác quản lý, giảng dạy tại 
 nhà trường đồng thời với việc bồi dưỡng nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn, nghiệp 
 vụ và kỹ năng tin học. Tiến hành chỉ đạo triển khai ứng dụng CNTT trong trường học cần 
 có tổ chức thực nghiệm một cách nghiêm túc, trên cơ sở nắm vững mục đích, yêu cầu. 11
+ Cần nhận thức đúng đắn trách nhiệm của bản thân mỗi giáo viên trong thực hiện 
đổi mới toàn diện nền giáo dục của đất nước.
 Như chúng ta đã thấy trong giáo dục, người thầy có vai trò quan trọng. Giáo viên là 
người định hướng, dẫn đường chỉ lối và truyền cảm hứng cho học sinh tiếp thu, lĩnh hội 
kiến thức. Không có phần thưởng nào có thể khơi gợi tinh thần ham học thực sự, không 
có chế tài nào có thể bắt ép người ta ham học, yêu học mà chính là những người thầy, 
bằng chính tấm gương sáng về lòng ham học, tinh thần tự học, đam mê nghiên cứu, sáng 
tạo...là cảm hứng tuyệt vời và sâu sắc nhất, bền bỉ nhất trong học trò. Một người thầy 
giỏi sẽ biết cách chọn lọc những kiến thức nào thực sự cần thiết phù hợp với trình độ, 
năng lực tiếp thu của học trò, truyền cho các em niềm đam mê, tìm tòi, nghiên cứu và 
tinh thần học tập suốt đời. Từ nhận thức ấy giúp mỗi giáo viên cần cố gắng nỗ lực nhiều 
hơn trong việc đổi mới, tích cực tiếp cận, ứng dụng CNTT, CĐS trong công tác chuyên 
môn của mình.
+ Phải linh hoạt trong lựa chọn phương tiện phù hợp cho mỗi tiết dạy.
 Nói chung trong quá trình dạy học, các phương tiện dạy học giảm nhẹ công việc của 
giáo viên và giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi. Có các phương tiện 
thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác 
giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, 
tạo ra cho học sinh những tình cảm tốt đẹp với môn học. Do đặc điểm của quá trình nhận 
thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của mỗi học sinh tăng dần theo các cấp độ của tri 
giác: Nghe - Thấy
- Làm được (những gì nghe được không bằng những gì nhìn thấy, những gì nhìn thấy 
không bằng những gì tự tay làm được), nên khi đưa những phương tiện vào quá trình dạy 
học, giáo viên có điều kiện để nâng cao tính tích cực, độc lập của học sinh và từ đó nâng 
cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo của 
các em. Tính chất của phương tiện dạy học biểu thị nội dung thông tin, hình thức thông 
tin và phương pháp cho thông tin chứa đựng trong phương tiện và phải dưới sự tác động 
của giáo viên hoặc học sinh, tính chất đó mới được bộc lộ ra. Tóm lại phương tiện dạy 
học có một ý nghĩa to lớn trong quá trình dạy học nhất là trong giai đoạn thay sách giáo 
khoa, áp dụng giáo dục phổ thông mới 2018; có rất nhiều các loại phương tiện dạy học 
với các hình thức và chức năng khác nhau, như bảng đen, bảng trắng, máy chiếu, máy 
quay, máy ghi âm, ghi hình....Ứng dụng CNTT, CĐS trong giảng dạy cũng chính là một 
hình thức sử dụng phương tiện dạy học. Phương tiện dạy học với chức năng truyền thụ tri 
thức, hình thành kỹ năng, phát triển hứng thú học tập và tổ chức điều khiển quá trình dạy 
học. Chính vì vậy để ứng dụng CNTT, CĐS có hiệu quả trong quá trình dạy học, chất 
lượng giờ dạy được nâng lên thì người giáo viên phải linh hoạt trong việc lựa chọn 
phương tiện dạy học phù hợp và hài hòa. 12
 + Phải chú ý tính sư phạm trong việc ứng dụng CNTT, CĐS vào dạy học.
 Đối với nghề dạy học, tiêu chí của bài học không giống như những bài thuyết trình, 
những bản báo cáo. Đối tượng dạy học lại hoàn toàn khác với các đối tượng của Hội nghị, 
Hội thảo. Cho nên việc chuẩn bị một bài giảng có ứng dụng CNTT cần phải đảm bảo tính 
nội dung (khoa học) mà còn phải đặt mạnh tiêu chí về tính sư phạm. Tính sư phạm ở đây 
bao gồm: Sự phù hợp về mặt tâm lý của học sinh, tính thẩm mỹ, sự thể hiện nhuần nhuyễn 
các nguyên tắc dạy học và các phương pháp dạy học. Vì vậy, người giáo viên muốn sử 
dụng CNTT để dạy học có hiệu quả thì không những phải có kiến thức tối thiểu về các 
phần mềm mà còn phải có ý thức sư phạm, kiến thức về lý luận dạy học và về các phương 
pháp dạy học tích cực.
 Sử dụng máy tính để dạy học là một trong những hướng thay đổi phương pháp dạy 
học trong các nhà trường hiện nay. Trong đó việc giảng dạy bằng các trang trình chiếu 
Powerpoint đang được nhiều giáo viên thực hiện, sử dụng nó như một công cụ, một 
phương tiện phổ biến. Tuy nhiên không phải bất cứ tiết dạy nào, nội dung kiến thức nào 
chúng ta cũng đưa lên trang trình chiếu, như vậy có thể gây ra nhàm chán. Nếu chúng ta 
lạm dụng trình chiếu quá nhiều trong giảng dạy, có thể gây ra những tác dụng ngược lại 
với mong muốn của chúng ta. Chính vì vậy mỗi giáo viên cần có trách nhiệm trong việc 
lựa chọn những nội dung, những chi tiết đưa vào bài giảng sao cho phù hợp, đảm bảo tính 
chính xác, đúng đắn và phải thể hiện được tính sư phạm.
 100% các lớp học, các phòng bộ môn sử dụng máy tính ti vi để dạy học 13
1. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị:
3.1. về cơ sở vật chất và thiết bị: Nhà trường đã trang bị được:
 STT Tên thiết bị SL Ghi chú
 1 Máy tính xách tay 31
 2 Máy tính cây 14
 3 Ti vi 65 inh 30 100% phòng
 4 Camera bảo vệ 16
 5 Mạng Internet 02 gói 100% phòng
 6 Phòng tin học 20
3.2 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên.
về nhân lực nhà trường triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn Tin 
học được đưa vào giảng dạy bắt buộc ngay từ lớp 3; mô hình giáo dục STEM bước đầu được 
lồng ghép trong các môn học, gắn việc học của học sinh thông qua các hoạt động ứng dụng 
công nghệ để giải quyết các bài toán và hiện tượng trong cuộc sống.
+ Trong quản lý giáo dục, nhà trường đã triển khai số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng 
chung từ sở GDĐT, phòng GDĐT đến nhà trường. Hiện nay đã số hóa và định danh dữ liệu 
của giáo viên và học sinh. Cơ sở dữ liệu này vừa qua cũng đã hỗ trợ đắc lực công tác tuyển 
sinh và thống kê, báo cáo trong toàn trường. Nhà trường đã sử dụng phần mềm quản lý 
trường học, sổ điểm điện tử, học bạ điện tử, bước đầu thực hiện duyệt hồ sơ chuyên qua việc 
sử dụng chữ ký số và hầu hết cán bộ, giáo viên, nhân viên đều vận dụng hiệu quả, tích cực. 
Công tác thu phí không dùng tiền mặt đã được triển khai với toàn bộ GV, NV và CMHS toàn 
trường và bắt đầu thực hiện từ 20/4/2024.
+ 100% giáo viên đã sử dụng thành thạo máy tính trong phạm vi công việc của mình như 
soạn giảng giáo án word, PowerPoint. Truy cập Internet tìm kiếm tài liệu tham khảo, sử dụng 
các phần mềm dạy học.
+ 100% giáo viên biết giảng dạy, kiểm tra đánh giá học sinh trực tuyến thông qua các phần 
mềm Zoom meeting; Microsoft Teams; cơ sở dữ liệu... Nhà trường và giáo viên đã biết áp 
dụng những tiến bộ CNTT trong quản lý và giảng dạy như phần mềm cơ sở dữ liệu, đánh giá 
công chức viên chức, Temis ...
+ Ngoài những buổi tập huấn của Sở GDĐT và Phòng GDDT nhà trường đã tổ chức được 02 
buổi tập huấn cho CB,GV,NV về sử dụng Microsoft Teams; 02 buổi tập huấn về phần mềm 
đánh giá cán bộ, công chức, viên chức. 02 buổi tập huấn về giao bài tập, kiểm tra đánh giá 
qua phần mềm KAV Tập huấn về chuyển đổi số.
+100% giáo viên toàn trường được huy động tham gia, đóng góp chia sẻ học liệu vào kho 
học liệu số của nhà trường và của ngành giáo dục; tham gia làm bài giảng điện tử e-learning 
có chất lượng, tham gia ngân hàng đề, câu hỏi trắc nghiệm với hàng trăm câu hỏi...góp phần 14
xây dựng xã hội học tập và đẩy mạnh việc học tập suốt đời.
- Thi GVG cấp huyện: Có 02 cô giáo tham gia đều đạt giải trong đó: 01 đạt giải Nhì; 01 giải 
KK
- Thi CNTT cấp huyện: Có 3 CBGVNV tham gia đều đạt giải trong đó:
01 giải Nhì; 01 giải Ba; 01 giải KK
- Kho học liệu số của nhà trường đạt giải Nhì
- Bài giảng điện tử Elearning đạt 04 giải KK
3.3 Công tác chuyển đổi số.
- Nhà trường đã sử dụng phần mềm quản lý giáo dục chuyên ngành kết nối với cơ sở dữ liệu 
Giáo dục và Đào tạo tại (do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý) để quản lý hồ sơ học sinh, sổ 
điểm điện tử, học bạ điện tử, trích ngang hồ sơ giáo viên đáp ứng tiêu chí “đúng, đủ, sạch, 
sống”, xác thực định danh công dân điện tử của cơ sở dữ liệu dân cư; thực hiện thí điểm Học 
bạ số; 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường có chữ ký số
- Nhà trường đã số hóa và định danh dữ liệu của giáo viên và học sinh trên Cơ sở dữ liệu 
ngành: Cơ sở dữ liệu này vừa qua cũng đã hỗ trợ đắc lực công tác tuyển sinh và thống kê, 
báo cáo trong toàn trường, góp phần giải quyết vấn đề thống kê số liệu học sinh và giáo viên.
- Nhà trường đã sử dụng phần mềm quản lý trường học, sổ điểm điện tử, học bạ điện tử và 
hầu hết cán bộ, giáo viên, nhân viên đều vận dụng hiệu quả, tích cực.
- Hợp đồng mở tài khoản thu phí không dùng tiền mặt với ngân hàng Agribank đã triển khai 
đến cán bộ giáo viên và phụ huynh học sinh.
- Phần mềm Phổ cập:
- Phần mềm quản lý trường học:
- Phần mềm Đánh giá cán bộ CC,VC:
- Website nhà trường: -
Phần mềm thư viện nhà trường: thuvientruong.hanoi.edu.vn/Admin/Login.aspx
- Phần mềm Học trực tuyến OLM:
- Phần mềm Học trực tuyến KAV
- Xây dựng kho học liệu số, địa chỉ truy cập:
- CBGV nhân viên sử dụng kho học liệu trong làm việc và giảng dạy hàng ngày hiệu quả 
cao. Kho học liệu số đã hệ thống hóa các bài dạy và đưa học liệu lên kho học liệu đến 10/4/ 
2024 15
 TT Tên học liệu Số lượng Ghi chú
 1 Kế hoạch bài dạy 1056
 2 Bài giảng điện tử 2357
 3 Bài giảng Elearning 7
 4 SKKN 71
 5 Video minh họa tiết dạy 189
 6 Các văn bản chỉ đạo 18
 7 Phần mềm dạy học, hỗ trợ dạy học 22
 8 Bài giảng stem 15
 9 Đề kiểm tra 198
 10 Kỹ năng CNTT 52
 11 Văn thư 78
 12 Video tài liệu 10
 13 Tài liệu y tế 100
 14 Công tác Đội 100
- Tham gia thi kho học liệu cấp huyện được giải nhì cấp huyện 16
4. Chất lượng giáo dục của học sinh sau khi thực hiện đề tài.
- Chất lượng giáo dục năm 2023-2024:
 Tổng số học Hoàn thành Chưa hoàn 
 Hoàn thành
 TT Môn học sinh tược tốt thành
 đánh giá SL % SL % SL %
 1 Tiếng Việt 556 338 60.8 216 38.9 2 0.3
 2 Toán 556 376 67.7 178 32 2 0.3
 3 Đạo đức 556 354 63.7 202 36.3
 4 Tự nhiên và XH 312 195 62.5 117 37.5
 5 Khoa học 244 162 65.5 82 34.5
 6 Lịch sử và Địa lý 244 152 62 92 38
 7 Âm nhạc 556 339 61 217 39
 8 Mĩ thuật 556 369 66 187 34
 9 Kỹ thuật, CN 353 219 62 134 38
 10 Tin học 220 158 72 62 28
 11 Thể dục (GDTC) 556 339 61 217 39
 12 HĐTN 423 264 62 159 38
 13 Ngoại ngữ 352 165 47 187 53 17
- Chất lượng và số lượng thi vioedu
 Số HS tham gia Số HS tham gia 
 Năm học Số học sinh đạt giải cấp huyện
 voedu cấp trường voedu cấp huyện
 05 giải trong đó có:
 2021-2022 60 8
 01 giải nhì, 01 giải ba và 03 K
 07 giải trong đó có:
 2022-2023 115 10
 01 giải nhì, 03 giải ba và 03 K
 16 giải trong đó có:
 2023-2024 182 20 01 giải nhất, 04 em đạt giải NI
 04 giải ba và 07 KK.
4. Hiệu quả của sáng kiến
4.1 Hiệu quả về khoa học: tạo ra sự tiếp cận thông tin và kiến thức một cách dễ dàng thu 
hẹp khoảng cách địa lý, cung cấp linh hoạt về thời gian và không gian học tập, tạo ta nhiều 
cơ hội học tập và phát triển bản thân.
4.2 Hiệu quả về kinh tế: giáo viên, học sinh có thể khai thác học liệu nhanh chóng bằng các 
thiết bị trực tuyến mà không bị giới hạn bất kể tình trạng kinh tế nào. Mặt khác, chuyển đổi 
số cũng giúp việc chia sẻ tài liệu, giáo trình giữa học sinh và giáo viên trở nên dễ dàng và tiết 
kiệm hơn do giảm thiểu được các chi phí về in ấn.
4.3 Hiệu quả về xã hội:
 Trong những năm gần đây ngành giáo dục đã tích cực áp dụng CNTT vào trong hoạt 
động giảng dạy. Ngành giáo dục đã phát triển mô hình giảng dạy học trực tuyến online, để 
người học có thể học mọi nơi, mọi lúc, chủ động trong việc học tập hiệu quả hơn.
 Trong đại dịch covid-19 xảy ra trên toàn thế giới khiến cho mọi lĩnh vực công tác, 
kinh tế ngành nghề bị thiệt hại không nhỏ, và ngành giáo dục cũng không là ngoại lệ. Để 
đảm bảo an toàn cho học sinh, sinh viên cũng như thực hiện giãn cách xã hội, các trường học 
đã cho học sinh, sinh viên nghỉ học cách ly tại nhà. Và để đảm bảo kiến thức thì ngành giáo 
dục đã áp dụng việc học online trực tuyến vào trong giảng dạy. Với sự phát triển nhanh 
chóng của công nghệ như hiện nay, cùng với việc ngành giáo dục đang đẩy mạnh đầu áp 
dụng công nghệ nghệ chuyển đổi số trong giảng dạy, mọi khó khăn sẽ được giải quyết sớm 
nhất trong tương lai. Cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, ứng dụng di 
động đã tạo điều kiện cho chuyển đổi số trong giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn, tạo cơ hội 
cho mọi người có thể học và tương tác ở mọi lúc, mọi nơi.
 Nền tảng cơ bản của chuyển đổi số trong giáo dục dựa vào cơ sở vật chất, hạ tầng 
thông tin, cơ sở dữ liệu số chuyên ngành, đường lối, chủ trương chính sách và đội ngũ lãnh 
đạo, cán bộ viên chức, giảng viên, giáo viên, người học ... 18
5. Tính khả thi
 Việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý và dạy học có tính 
khả thi, từ việc xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị, bổ sung và sửa chữa, nắp thêm 
mạng Internet... đến tháng 4 năm 2023 tất cả các phòng học đã có máy tính, ti vi, và kết nối 
mạng Internet có dây, không dây cho tất cả các thiết bị trong nhà trường); Giáo viên tích cực 
tham gia các chuyên đề, tập huấn các phần mềm dạy hoc , tập huấn CSDL... Ngay từ đầu 
năm học, BGH nhà trường đã triển khai số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu với tinh thần: tất cả 
các đoàn thể, các bộ phận, các tổ chuyên môn tổ văn phòng đã ứng dụng những kỹ năng đã 
được tập huấn về CNTT, chuyển đổi số để thực hiện hiệu quả công tác của nhà trường.
6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến. Trong 03 năm học từ năm 20212022 đến năm học 
2023-2024
7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến.
 Đẩy mạnh triển khai ứng dụng CNTT vào dạy học và quản lý, nhà trường phải đầu tư 
kinh phí mua các phần mềm như: quản lý tài chính, quản lý hồ sơ số, phần mềm thư viện, 
chữ kí số, tài khoản thu phí không dùng tiền mặt.
II. Kiến nghị đề xuất
1. Những điều rút ra từ đề tài.
 Hiện nay chúng ta đang sống ở thế kỷ XXI - thế kỷ của khoa học và công nghệ, sự 
chuẩn bị nguồn nhân lực cho thời kỳ mới của đất nước là một trong những nhiệm vụ trọng 
đại của toàn xã hội và của ngành giáo dục đào tạo. Để theo kịp với các nước tiên tiến, chúng 
ta phải đổi mới giáo dục một cách đồng bộ: chương trình, SGK, phương pháp giảng dạy, học 
tập, kiểm tra đánh giá, quản lý giáo dục, đội ngũ cán bộ giáo viên và đặc biệt là cơ sở vật 
chất, thiết bị, phương tiện dạy học hiện đại. Phát triển các kho học liệu số, học liệu mở chia 
sẻ dùng chung toàn ngành giáo dục, gồm bài giảng điện tử, bài giảng dạy trên truyền hình, 
học liệu số đa phương tiện, sách giáo khoa điện tử, phần mềm mô phỏng và các học liệu 
khác; phát triển hệ thống ngân hàng câu hỏi trực tuyến cho tất cả các môn học của giáo dục 
phổ thông.
 Sự ra đời của phương pháp dạy học mới bao giờ cũng gặp những khó khăn, đòi hỏi phải 
có ý thức và quyết tâm tìm tòi, thử nghiệm với những bước đi vững chắc mới có thể đạt hiệu 
quả cao. Áp dụng phương pháp giảng dạy có ứng dụng CNTT, CĐS đòi hỏi giáo viên phải 
dành thời gian đầu tư vào mỗi bài dạy. Từng bước áp dụng các phương tiện hiện đại như sử 
dụng máy vi tính, máy chiếu đa năng, Internet, các phần mềm hỗ trợ bài giảng, kho học liệu 
điện tử....đó là con đường hữu hiệu, có tác dụng tăng hiệu quả tiết học lên gấp nhiều lần so 
với phương pháp giảng dạy truyền thống trước đây.
 Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đang là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc 
nâng cao chất lượng dạy và học. Đó là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong cải 
cách giáo dục ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT, CĐS nhằm đổi mới nội 19
dung, phương pháp dạy học là một công việc lâu dài, khó khăn, đòi hỏi rất nhiều điều kiện 
về cơ sở vật chất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên. Do đó, để đẩy mạnh việc ứng 
dụng và phát triển CNTT, CĐS trong dạy học trong thời gian tới có hiệu quả, nhà nước phải 
đầu tư trang thiết bị hiện đại, đồng thời hoàn thiện hạ tầng CNTT và CĐS để mọi trường 
học, mọi giáo viên đều có thể kết nối vào mạng Internet. Bên cạnh đó, cósự chỉ đạo quyết 
liệt, đồng bộ, thống nhất bằng các văn bản mang tính pháp quy để các trường có cơ sở lập đề 
án, huy động các nguồn kinh phí xã hội hóa đầu tưcho hoạt động này, góp phần làm thay đổi 
nội dung, phương pháp, hình thức dạy học và quản lý giáo dục, tạo nên được sự kết hợp giữa 
nhà trường, gia đình, xã hội thông qua mạng CNTT, làm cơ sở tiến tới một xã hội học tập.
 Việc ứng dụng CNTT, chuyển đổi số vào công tác dạy học trong các trường phổ thông 
là rất cần thiết nó có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy học 
theo một chương trình thay sách giáo khoa hiện nay. Do đó việc soạn giáo án ứng dụng 
CNTT là không thể thiếu, để có được một giáo án ứng dụng CNTT chất lượng thì giáo viên 
phải tự tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu và mất nhiều thời gian mới có được. Nó đòi hỏi phải có 
sự đầu tư không chỉ kiến thức mà còn là thời gian.
 Đối với công tác quản lý trong nhà trường, quan điểm về việc lãnh đạo, chỉ đạo ứng 
dụng CNTT, CĐS trong nhà trường có nhiều cách tiếp cận. Nhưng qua thực tiễn ở Trường 
Tiểu học Phong Vân cho thấy cách tiếp cận thích hợp là đi từ thấp lên cao, từ đơn giản đến 
phức tạp, từ tổng thể đến chi tiết, từ môi trường thông tin đến môi trường làm việc chuyên 
nghiệp. Vì thế cần cho giáo viên thấy được tầm quan trọng của CNTT, CĐS được ứng dụng 
trong giảng dạy và học tập. Kinh nghiệm cho thấy ở đâu cán bộ lãnh đạo và quản lý nhận 
thức được vai trò của CNTT, CĐS hiểu biết về CNTT, CĐS. Quan tâm sử dụng thật sự 
CNTT phục vụ cho công tác giáo dục (giảng dạy, học tập, quản lý ...) thì ở đó CNTT phát 
huy được tác dụng. Không đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý phải trở thành nhà CNTT nhưng 
cần có hiểu biết khái quát về các vấn đề cơ bản, về phương pháp tổ chức và khai thác các hệ 
thống thông tin. Đặc biệt là sự quyết tâm, kiên trì, khuyến khích động viên đội ngũ giáo viên 
tìm tòi học hỏi, xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT, CĐS hàng năm trong trường để làm cơ 
sở triển khai, thực hiện. Người hiệu trưởng phải học để biết đòi hỏi những gì mà CNTT có 
thể đáp ứng, chỉ đạo và thúc đẩy thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT, CĐS trong giảng dạy 
và học tập có hiệu quả.
 Qua thực tế công tác lãnh đạo nhà trường, được sự ủng hộ cùng quyết tâm phấn đấu của 
các giáo viên trong trường, sự góp ý động viên của các bạn đồng nghiệp, bản thân tôi đã tiếp 
thu được nhiều điều bổ ích, thiết thực cho quá trình chỉ đạo đưa ứng dụng CNTT, CĐS vào 
các mặt hoạt động của nhà trường. Tôi viết sáng kiến kinh nghiệm này với mong muốn được 
đóng góp một phần kinh nghiệm nhỏ để thực hiện một chủ trương lớn của ngành trong việc 
đổi mới phương pháp dạy học nhờ ứng dụng CNTT, CĐS. 20
2. Kiến nghị, đề xuất.
 Để ứng dụng CNTT, CĐS trong dạy - học được đồng bộ ở nhà trường tôi xin kiến nghị 
với UBND Huyện, Phòng GDĐT tiếp tục tạo điều kiện về cơ sở vật chất, đầu tư nâng cấp 
cho các trường về trang thiết bị CNTT, thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng các 
phần mềm ứng dụng CNTT, CĐS cho cán bộ, giáo viên để nâng cao kiến thức, trình độ, từ 
đó có thể thiết kế các giáo án ứng dụng CNTT và tiến tới là xây dựng giáo án điện tử hoàn 
chỉnh, chia sẻ các kho học liệu, đáp ứng nhu cầu giảng bài bằng giáo án điện tử, dạy học từ 
xa, phục vụ tự học tập nghiên cứu thêm ngoài giờ học trên lớp của học sinh. viên gương 
mẫu, chịu khó, quyết tâm ứng dụng CNTT, CĐS. Phát triển hạ tầng CNTT và truyền thông 
thành hạ tầng số thống nhất, ổn định, linh hoạt; phát triển ứng dụng, dịch vụ mới theo hướng 
dùng chung hạ tầng số, nền tảng số đảm bảo khả năng sử dụng dữ liệu số và các công cụ 
phân tích thông minh vào công tác giảng dạy để xây dựng thành lực lượng hạt nhân, điển 
hình làm tấm gương cho các giáo viên khác học tập, noi gương; đồng thời tạo điều kiện cho 
tất cả giáo viên được đi tập huấn các chương trình ứng dụng CNTT, tập huấn về công tác 
CĐS để bổ sung thêm kiến thức và học hỏi thêm kinh nghiệm của đồng nghiệp phục vụ vào 
công tác giảng dạy.
 Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi trong hai năm học vừa qua tôi đã chỉ đạo việc 
ứng dụng CNTT trong công tác quản lý giáo dục và giảng dạy các môn học thực hiện giáo án 
ứng dụng CNTT, chuyển đổi số trong nhà trường có hiệu quả ở Trường Tiểu học Phong Vân. 
Xin chia sẻ kinh nghiệm để các đồng nghiệp tham khảo và cùng nhau thực hiện. Đặc biệt 
cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực trồng người thời đại mới, đáp ứng với yêu cầu 
hội nhập quốc tế, đưa nước ta trở thành nước Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa.
 Xin chân thành cảm ơn!
 Phong Vân, ngày 10 tháng 04 năm 2024
 XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN Người viết sáng kiến
 Nguyễn Thị Tuyết Thu

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_ung_dung_cntt_va_chuyen_doi_so_trong_c.docx
  • pdfSKKN Một số biện pháp ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong công tác quản lý và giảng dạy tại Trường.pdf