SKKN Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và tổ chức quản lý ở Trường Tiểu học xã Đại Thắng
Ngày nay, CNTT đã len lỏi vào từng ngóc ngách, hiện diện mọi lúc mọi nơi, ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt đời sống xã hội. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của CNTT trong các lĩnh vực cốt lõi như y học, giáo dục, quản lý hành chính, an ninh quốc phòng, giải trí.
Nói đến công nghệ thông tin, thường chỉ phát triển mạnh ở thành phố và ở một số ngành kinh tế như Tài chính, Ngân hàng. Ngoài đời sống xã hội chỉ có ở các quán Internet... Giáo dục và đào tạo là một trong những ngành đón nhận nhiều nhất sự tác động từ làn sóng tiến bộ của khoa học và công nghệ. Gần đây, các phương tiện truyền thông đại chúng thường xuyên đưa tin về khả năng bất ngờ và vô hạn của những “Chú rô-bốt biết suy nghĩ, biết chơi cờ, biết tự học”, những “người thầy Internet”. Thông tin này nêu lên vấn đề đáng suy nghĩ: “Trường học có thể cung cấp cho học viên những gì trong thời đại 4.0?”. Theo phương pháp giáo dục truyền thống, vai trò chuyển tải, truyền đạt kiến thức của người thầy là trung tâm, nhưng hiện nay, “thầy Google”, “thầy Youtube”, “thầy Facebook”, “thầy Internet” đang có xu hướng lấn át ở khía cạnh này. Sở hữu kho dữ liệu khổng lồ, những “Người thầy 4.0” này luôn sẵn sàng cung cấp kiến thức gần như miễn phí đến người học mọi lúc, mọi nơi.
Trong làn sóng công nghiệp hóa mới, hệ thống giáo dục phải tập trung vào phát triển phẩm chất và năng lực của người học thông qua việc định hướng các con đường phù hợp nhất cho các nhóm học sinh khác nhau để giúp họ phát huy được tiềm năng của mỗi cá nhân. Điều này cần được áp dụng ở tất cả các cấp học, các trình độ đào tạo. Để làm được như vậy, chúng ta cần khẳng định tầm quan trọng của một hệ thống giáo dục hỗ trợ học tập suốt đời. Toàn bộ hệ thống giáo dục phải nhận ra sự đa dạng về thế mạnh và tài năng của giới trẻ. Chỉ có quá trình học tập theo niềm đam mê mới có thể giúp xây dựng một thế hệ mới có bản lĩnh, với khả năng tự định hướng và kiên định theo đuổi các mục tiêu.
Vì vậy cần trang bị kiến thức công nghệ thông tin cho cán bộ giáo viên nhân viên nhà trường: Hầu hết cán bộ giáo viên, nhân viên của trường đều được đào tạo trong giai đoạn công nghệ thông tin chưa phát triển ở Việt Nam, đa số tuổi đời khá cao, chỉ mới biết đến máy vi tính qua bạn bè, đồng nghiệp, học tập lẫn nhau, Một hạn chế nữa là trình độ ngoại ngữ của giáo viên quá hạn chế nên ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp cận với máy vi tính, đến với công nghệ thông tin.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và tổ chức quản lý ở Trường Tiểu học xã Đại Thắng
1 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN VỤ BẢN TRƯỜNG TIỂU HỌC XÃ ĐẠI THẮNG BÁO CÁO SÁNG KIẾN ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC XÃ ĐẠI THẮNG Lĩnh vực (mã)/cấp học: CNTT/Tiểu học Tác giả: VŨ VĂN NGHIÊM Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ: Phó Hiệu trưởng Đơn vị công tác: Trường Tiểu học xã Đại Thắng Nam Định, ngày 10 tháng 6 năm 2020 2 THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và tổ chức quản lý ở trường tiểu học xã Đại Thắng 2. Lĩnh vực (mã)/cấp học: CNTT/Tiểu học 3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 05 tháng 9 năm 2019 đến ngày 5 tháng 7 năm 2020 4. Tác giả: Họ và tên: Vũ Văn Nghiêm Năm sinh: 1980 Nơi thường trú: 273- Lương Thế Vinh – Thị trấn Gôi – Vụ Bản – Nam Định Trình độ chuyên môn: Đại học SP Tiểu hoc Chức vụ công tác: Phó Hiệu trưởng Nơi làm việc: Trường Tiểu học xã Đại Thắng Điện thoại: ......................................................... Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100% 5. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị: Trường Tiểu học xã Đại Thắng Địa chỉ: Xã Đại Thắng, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Điện thoại: 0799251280 3 I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến: Ngày nay, CNTT đã len lỏi vào từng ngóc ngách, hiện diện mọi lúc mọi nơi, ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt đời sống xã hội. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của CNTT trong các lĩnh vực cốt lõi như y học, giáo dục, quản lý hành chính, an ninh quốc phòng, giải trí. Nói đến công nghệ thông tin, thường chỉ phát triển mạnh ở thành phố và ở một số ngành kinh tế như Tài chính, Ngân hàng. Ngoài đời sống xã hội chỉ có ở các quán Internet... Giáo dục và đào tạo là một trong những ngành đón nhận nhiều nhất sự tác động từ làn sóng tiến bộ của khoa học và công nghệ. Gần đây, các phương tiện truyền thông đại chúng thường xuyên đưa tin về khả năng bất ngờ và vô hạn của những “Chú rô-bốt biết suy nghĩ, biết chơi cờ, biết tự học”, những “người thầy Internet”. Thông tin này nêu lên vấn đề đáng suy nghĩ: “Trường học có thể cung cấp cho học viên những gì trong thời đại 4.0?”. Theo phương pháp giáo dục truyền thống, vai trò chuyển tải, truyền đạt kiến thức của người thầy là trung tâm, nhưng hiện nay, “thầy Google”, “thầy Youtube”, “thầy Facebook”, “thầy Internet” đang có xu hướng lấn át ở khía cạnh này. Sở hữu kho dữ liệu khổng lồ, những “Người thầy 4.0” này luôn sẵn sàng cung cấp kiến thức gần như miễn phí đến người học mọi lúc, mọi nơi. Trong làn sóng công nghiệp hóa mới, hệ thống giáo dục phải tập trung vào phát triển phẩm chất và năng lực của người học thông qua việc định hướng các con đường phù hợp nhất cho các nhóm học sinh khác nhau để giúp họ phát huy được tiềm năng của mỗi cá nhân. Điều này cần được áp dụng ở tất cả các cấp học, các trình độ đào tạo. Để làm được như vậy, chúng ta cần khẳng định tầm quan trọng của một hệ thống giáo dục hỗ trợ học tập suốt đời. Toàn bộ hệ thống giáo dục phải nhận ra sự đa dạng về thế mạnh và tài năng của giới trẻ. Chỉ có quá trình học tập theo niềm đam mê mới có thể giúp xây dựng một thế hệ mới có bản lĩnh, với khả năng tự định hướng và kiên định theo đuổi các mục tiêu. Vì vậy cần trang bị kiến thức công nghệ thông tin cho cán bộ giáo viên nhân viên nhà trường: Hầu hết cán bộ giáo viên, nhân viên của trường đều được đào tạo trong giai đoạn công nghệ thông tin chưa phát triển ở Việt Nam, đa số tuổi đời khá cao, chỉ mới biết đến máy vi tính qua bạn bè, đồng nghiệp, học tập lẫn nhau, Một hạn chế nữa là trình độ ngoại ngữ của giáo viên quá hạn chế nên ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp cận với máy vi tính, đến với công nghệ thông tin. II. Mô tả giải pháp: 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến. - Sự phát triển như vũ bảo của ngành khoa học và công nghệ đó đem lại những thành tựu to lớn trong mọi hoạt động của con người. Đối với ngành giáo dục, việc vận dụng CNTT vào quá trình quản lý và giảng dạy đó đem lại một hiệu quả thật tích cực : Thông tin được cập nhật nhanh chóng và chính xác, việc quản lý nhân sự trên các phần mềm của Bộ Giáo dục – Đào tạo, các văn bản, báo cáo, chuyên môn nhẹ nhàng và khoa học đáp ứng hội nhập với xu thế chung của thời đại, nhằm thúc đẩy tiến trình đổi mới nhà trường theo hướng hội nhập, 4 thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ năm học 2019 – 2020. Vì vậy đòi hỏi cán bộ quản lý nhà trường, giáo viên, công nhân viên phải đáp ứng tốt sự đổi mới đẩy mạnh ứng dụng của công nghệ thông tin vào trong giảng dạy và tổ chức quản lý ở trường tiểu học nhằm thay đổi tư duy trong giảng dạy và quản lý. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến. Năm học 2019 – 2020 và các năm học tiếp theo việc đẩy mạnh ứng dụng sâu rộng công nghệ thông tin trong giảng dạy nhà trường, đổi mới quản lý tài chính, đổi mới chuyên môn là nhiệm vụ được ưu tiên phát triển mạnh ở các Điểm trường là chìa khóa thành công của mỗi nhà trường. Điều này hoàn toàn hợp lý với suy luận lô gíc: Nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển nhanh của quá trình công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước, muốn thành công trong kế hoạch này thì vấn đề quan trọng cần giải quyết đó là nguồn nhân lực chất lượng cao. Đảng ta đã xác định cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục đào tạo phải đi trước một bước, muốn vậy bản thân giáo dục đào tạo phải đổi mới đồng bộ từ nội dung chương trình đến phương pháp giảng dạy, thiết bị dạy học. Thời đại ngày nay, thời đại của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thời đại toàn cầu hoá, các nước cùng hội nhập để phát triển, thời đại của nền kinh tế tri thức. Thời đại bùng nổ của công nghệ thông tin. Với những ưu thế nổi trội, công nghệ thông tin được ứng dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội do đó việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trường học là một yêu cầu bắt buộc và nó mang tính tất yếu, tính đòi hỏi cấp thiết. Đối với trường tiểu học xã Đại Thắng, thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành trong công tác dạy và học là một trong những tiêu chí bắt buộc. Hơn ai hết là Phó Hiệu trưởng nhà trường tôi hiểu rõ tầm quan trọng, tính bắt buộc phải đưa công nghệ thông tin vào trường học, chính vì vậy bản thân đã đầu tư suy nghĩ, tìm mọi biện pháp cùng với cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường thực hiện đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và tổ chức quản lý ở trường tiểu học. Qua một thời gian thực hiện, đến nay trường tiểu học xã Đại Thắng là một trong những trường tiểu học có nhiều thành công trong việc đưa các ứng dụng công nghệ thông tin vào trường học trong tỉnh Nam Định. Sau đây là một số kinh nghiệm mà bản thân đã trải qua, đã làm trong quá trình chỉ đạo và thực hiện việc đưa công nghệ thông tin vào nhà trường tiểu học. 2.1.Thực trạng của ứng dụng cụng nghệ thông tin trong giảng dạy và tổ chức quản lý ở trường tiểu học. Trường tiểu học xã Đại Thắng được được sáp nhập từ 3 trường tiểu học; tiểu học A Đại Thắng; tiểu học B Đại Thắng; tiểu học C Đại Thắng từ ngày 01/08/2019 theo đề án sáp nhập của UBND huyện Vụ Bản. Cũng như một số trường khác trong huyện Vụ Bản, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy của các điểm trường chưa đáp ứng được các yêu cầu hiện nay đặt ra. Thiết bị công nghệ thông tin của trường có 03 phòng máy vi tính kết nối với đường truyền internet. Nguồn điện đảm bảo để phục vụ cho việc dạy và 5 học thường xuyên liên tục truy cập internet phục vụ tốt cho việc điều hành chỉ đạo của nhà trường. - Trong năm học 2019 – 2020 hầu như các hoạt động của nhà trường đều được cụ thể hóa thông qua website của trường. Đây là một nỗ lực đáng khích lệ của toàn thể đội ngũ, thực hiện tốt việc ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ nhà trường, theo ngành giáo dục của huyện nhà, Hoạt động giảng dạy của nhà trường đều có sự đổi mới tích cực về phương pháp giảng dạy. Giáo viên đó chủ động đầu tư soạn giảng giáo án điện tử, sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học thông qua trao đổi tiết dạy trên email, Zalo.. khai thác tài nguyên trên các trang mạng trực tuyến với những tiết học thật sự lôi cuốn học sinh. Tất cả những hoạt động này đều đạt được hiệu quả như mong muốn. 2.2. Giải pháp phát triển ƯDCNTT trong giảng dạy và tổ chức quản lý ở trường tiểu học 2.2.1.Xác định về tư tưởng: Từ thực trạng trên để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý và giảng dạy trong nhà trường, từng bước đáp ứng các yêu cầu của nhà trường tiến tới xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia mức độ II, đáp ứng được các tiêu chí của chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học, bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch về tuyên truyền, vận động làm cho cán bộ giáo viên trong trường hiểu rõ tính ưu việt của công nghệ thông tin, tính cấp thiết và yêu cầu bắt buộc phải thực hiện cho tốt đối với cán bộ quản lý, giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy phải khai thác tối đa ƯDCNTT trong điều hành quản lý, trong giảng dạy, nhanh chóng làm chủ trang thiết bị công nghệ, khả năng khai thác sử dụng phải thực sự quan tâm đến vấn đề này, phải tự vượt lên chính mình cả trong tư duy lẫn công việc. 2.2.2 Trang bị kiến thức về CNTT cho cán bộ giáo viên, nhân viên của trường. Kiến thức về công nghệ thông tin của GV ở trường có thể nói là còn hạn chế để có được kiến thức tối thiểu phục vụ cho công tác giảng dạy, giáo viên xác định phải lựa chọn những phần kiến thức có tính chất vừa cơ bản, vừa thiết thực. Các kiến thức mà tôi cho rằng cần phải trang bị đó là: - Khái niệm về công nghệ thông tin, các ứng dụng của công nghệ thông tin trong khoa học và đời sống, đặc biệt là các tiện ích của công nghệ thông tin trong nhà trường, trong công tác quản lý, giảng dạy ở trường tiểu học. - Các kiến thức ban đầu về tin học văn phòng như: Kĩ thuật soạn thảo, chỉnh sửa, in ấn văn bản, kĩ thuật tạo bảng biểu trên Word, trên Excel. - Các kiến thức về sao chép, lưu trữ văn bản. - Các kiến thức về mạng máy tính như: Mạng nội bộ LAN, mạng toàn cầu Internet, cách khai thác thông tin trên mạng. - Kiến thức về sử dụng các phần mền soạn giảng giáo án điện tử như: Powerpoint, Violet.. 6 - Cách sử dụng các công cụ trình chiếu:Laptop, máy chiếu đa năng, màn chiếu - Các kiến thức về tìm kiếm trên các trang mạng .nhằm bổ trợ cho nội dung dạy học trên lớp. 2.2.3 Trang bị CSVC- trang thiết bị công nghệ thông tin. Dựa trên thực trạng về cơ sở vật chất của nhà trường tôi xác định các trang thiết bị về cơ sở vật chất phục vụ cho ứng dụng công nghệ thông tin cần phải có đó là: - 03 phòng máy vi tính tưng ứng ở 3 Điểm trường với tối thiểu mỗi điểm trường 1 phòng máy là 16 máy trong đó 15 máy cho người học, 01 máy cho giáo viên dạy. - Một máy tính xách tay (Laptop) - Một máy chiếu đa nămg(Projector) - Một màn chiếu. -Một màn hình ti vi 60in có kết nối với internet - Máy tính văn phòng: dùng cho văn thư, quản lý, thư viên, tài vụ: 4 máy - Máy in cho các máy tính văn phòng: 02 máy - Máy Photocopi: 01(nếu có) - Các thiết bị kết nối mạng LAN (tối thiểu có 5 cổng kết nối) và mạng Internet - Các thiết bị ghi hình: Máy ảnh kĩ thuật số, Camera: 01 bộ - Thiết bị ổn áp dòng điện: Máy ổn áp: 05 máy 3. Các biện pháp tổ chức thực hiện 3.1. Xây dựng các văn bản, nghị quyết của các tổ chức trong trường về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và gỉang dạy, học tập của giáo viên và học sinh. Căn cứ vào các văn bản của cấp trên về nhiệm vụ năm học, tập thể lãnh đạo nhà trường, từ cấp Uỷ chi bộ đến Ban giám hiệu, Công đoàn, Đoàn thanh niên đã thảo luận để xây dựng kế hoạch năm học cụ thể cho trường mình: Kế hoạch năm học 2019-2020 xác định rõ đối với trường tiểu học xã Đại Thắng là năm tiếp tục triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác tổ chức quản lý và giảng dạy cụ thể là: Năm học 2019-2020 triển khai mạnh mẽ về đưa tin học vào nhà trường. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường với các công việc cụ thể là: 100% giáo viên đăng kí có các bài giảng bằng giáo án điện tử hoặc dạy trên ti vi có kết nối internet. Những Giáo viên có các bài giảng bằng giáo án điện tử hoặc dạy trên ti vi có kết nối internet đều được động viên khen thưởng kịp thời sau khi BGH đánh giá. Tăng cường khai thác nguồn tài nguyên mạng, thực hiện báo cáo giữa cá nhân với trường, trường với PGD bằng thư điện tử qua các địa chỉ điện tử Email; Gmail . Khai thác phần mềm quản lý thư viện, phần mềm tra cứu văn bản pháp luật, phần mềm kế toán, phần mềm quản lý cán bộ, kết nối mạng LAN. mạng Internet cho tất cả các máy tính của trường; tiếp tục khai thác có hiệu quả Websil riêng cho trường để thông báo kết quả học tập, công tác của học sinh, giáo viên trong trường, 7 đồng thời tạo diễn đàn giao lưu với bạn bè trong huyện, trong tỉnh và cả nước. Xây dựng ngân hàng giáo án điện tử, ngân hàng đề thi. 3.2.Trang bị kiến thức về CNTT cho cán bộ giáo viên - NV: Tổ chức lớp học: Trong điều kiện cán bộ giáo viên nhà trường ở quá xa các trung tâm, cơ sở đào tạo tin học, hơn nữa cán bộ giáo viên còn phải hoàn thành nhiệm vụ công tác của mình, nhà trường đã chủ động tập huấn sâu rộng đến toàn thể cán bộ, giáo viên, công nhân viên trong trường. Giáo viên dạy chính là giáo viên tin học của trường. Nhà trường còn liên hệ với trung tâm tin học mời thầy giáo về tập huấn học để cấp chứng chỉ cho cán bộ, gv-cnv. Hàng tháng nhà trường tổ chức một buổi bồi dưỡng, cập nhật kiến thức tin học cho giáo viên có nhu cầu tại phòng máy của trường. Động viên tự học, tự bồi dưỡng: Tuy đã có chứng chỉ về kiến thức công nghệ thông tin, xong vấn đề tự học, tự bồi dưỡng của mỗi người là vô cùng quan trọng. Nhà trường đã tích cực động viên các thành viên tham gia tự học tự bồi dưỡng về kiến thức công nghệ thông tin, các cá nhân có kế hoạch cụ thể tự học, tự bồi dưỡng, coi đây là nhiệm vụ quan trọng của mỗi người trong công tác bồi dưỡng thường xuyên chuyên môn nghiệp vụ, trong kế hoạch phấn đấu theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học 3.3 Xây dựng CSVC- trang thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin vào trường học. a. Xây dựng phòng máy: Trong điều kiện nhà trường đã có phòng máy vi tính phục vụ giảng dạy môn tin học cho học sinh và BGH nhà trường đã tham mưu với Hội Cha mẹ học sinh bổ sung thêm máy vi tính theo chuẩn, loại bỏ máy vi tính cũ đó hết thời gian sử dụng Cơ chế này bảo đảm hiệu quả cao trong giảng dạy đó là: Học sinh và giáo có máy vi tính để học tập nâng cao trình độ sử dụng vi tính, sử dụng mạng internet. Để có được máy tính văn phòng nhà trường đã tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan đơn vị đóng trên địa bàn tài trợ máy vi tính văn phòng. Phòng máy vi tính của trường đi vào hoạt động đã phát huy hiệu quả rõ rệt, ngoài việc có máy để cho học sinh được học môn tin học ở tiểu học, phòng máy còn giúp cán bộ giáo viên cũng cố các kiến thức và kĩ năng công nghệ thông tin cần thiết phục vụ cho công tác của mỗi người. 3.4 Xây dựng thiết bị trình chiếu phục vị cho giảng dạy bằng giáo án điện tử, phục vụ các hội nghị, hội thảo trong trường. Để có đủ thiết bị trình chiếu phục vụ cho các bài giảng điện tử, các hội nghị, hội thảo nhà trường đã tham mưu với Hội khuyến học và Hội cha mẹ học sinh hỗ trợ kinh phí, cùng với tiết kiệm chi tiêu của nhà trường đã tạo được nguồn kinh phí mua sắm được một bộ thiết bị trình chiếu điện tử gồm: 02 máy tính xách tay (Laptop) – 01 máy chiếu đa năng Bộ thiết bị này hiện đang được khai thác dử dụng có hiệu quả 3.5 Xây dựng các lớp học có thiết bị mành hình ti vi có kết nối internet phục vụ cho việc tra cứu hình ảnh, tài liệu tham khảo trong quá trình dạy học. 8 Để có thiết bị màn hình ti vi phục vụ cho việc tra cứu tài liệu tham khảo, hỉnh ảnh trực quan sinh động, các vi deo phục vụ trong quá trình học tập, BGH nhà trường đã tham mưu với Hội khuyến học và Hội cha mẹ học sinh hỗ trợ kinh phí, cùng với công tác vận động xã hội hóa giáo dục, các tổ chức, cá nhân mạnh thường quân cùng chung ta với nhà trường mua tivi cho các lớp học. Qua quá trình vận động đến nay nhà trường đã bước đầu đạt được một số kết quả đáng khích lệ. một số lớp đã áp dụng tốt dạy học trên ti vi có hiệu quả rõ rệ. Dưới đây là một số hình ảnh dạy học ở các điểm trường. *Giờ học Tiếng Anh của thầy giáo Lê Kiên Trung ở điểm trường A *Giờ học Tiếng Anh của cô giáo Nguyễn Thị Vân ở điểm trường B 9 *Giờ học văn hóa của thầy giáo Vũ Đức Sơn ở Điểm trường C 3.6. Xây dựng mạng liên lạc: Mạng Internet: Nói đến ứng dụng công nghệ thông tin không thể thiếu mạng Internet, thuận lợi cho nhà trường năm học 2019 -2020 tiếp đà phát triển Internet các năm học trước, nhà 10 trường đó duy trỡ sự ổn định trong khai thác internet, cập nhật kịp thời các văn bản chỉ đạo của ngành để triển khai kịp thời tới từng giỏo viờn-cnv. 3.7. Xây dựng chương trình quản lý trong nhà trường, chương trình soạn thảo giáo án điện tử - Trong khi có phần mền quản lý cán bộ nhà trường đã xây dựng thụng tin của cán bộ giáo viên nhà trường tra cứu và cập nhận thông tin về nhân sự trong trường một cách nhanh chóng, chính xác. - Sử dụng các phần mền sẳn có: Nhà trường khuyến khích cán bộ giáo viên sử dụng phần mền Powerpoint sẵn có trong chương trình Windows; sử dụng phần mền Violet tôi khuyến khích giáo viên đăng kí làm thành viên tích cực của thư viên bài giảng điện tử. Hiện nay nhà trường đã đưa vào khai thác, sử dụng các phầm mền sẵn có như: phần mền Powerpoint; phần mền Violet; Phần mền tra cứu văn bản pháp luật (Của thư viện pháp luật), Phần mền quản lý thư viện; Phần mềm Smas. Edu.vn; Phần mềm dữ liệu cơ sở của ngành giáo dục; Phần mềm ra đề kiểm tra - Xây dựng ngân hàng dữ liệu: Chúng tôi khuyến khích cán bộ giáo viên cung cấp tài nguyên cho ngân hàng dữ liệu của trường để khai thác dùng chung như: Ngân hàng giáo án điện tử, ngân hàng đề kiểm tra, ngân hàng bài toán, bài văn hay, ngân hàng sáng kiến kinh nghiệm. Hiện nay ngân hàng giáo án điện tử của trường có trên 100 bài giảng điện tử; ngân hàng sáng kiến kinh nghiện có 50 SKKN được hội đồng khoa học các cấp xếp loại. - Xây dựng trang Websil: Một trong những kênh thông tin của nhà trường đến phụ huynh học sinh nhanh chóng , chính xác đó là kênh thông tin điện tử, để có thể truyền tải các văn bản pháp lý, các quy định của Đảng và nhà nước, của ngành giáo dục; các kết quả học tập, rèn luyện của học sinh, hình ảnh hoạt động của thầy trò nhà trường thì không phương tiện nào tốt hơn sử dụng Websil trên mạng Internet. III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại. Qua một thời gian triển khai đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy và tổ chức quản lý ở trường tiểu học, có thể nói đã thu được kết quả to lớn so với các năm học trước đó. Từ chỗ cán bộ, giáo viên, công nhân viên nhà trường còn chưa mạnh dạn tự tin về ƯDCNTT đến giờ 100% cán bộ ,giáo viên, công nhân viên và học sinh nhà trường đó khai thác tối đa đạt kết quả cao trong việc ƯDCNTT vào giảng dạy và trong điều hành của cán bộ quản lý nhà trường. Có thể nói tại thời điểm này trường tiểu học xã Đại Thắng đã hoàn thành tốt kế hoạch đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào nhà trường. Kết quả này được thể hiện qua bảng số liệu sau: 11 Trước khi thực TT Nội dung nghiên cứu Kết qủa thực hiện hiện 1 Xây dựng văn bản Hạn chế Đầy đủ 2 Nhận thức của CBGV Chưa đầy đủ Đầy đủ và trở thành động lực 3 Trình độ CNTT Hạn chế 100% có chứng chỉ về CNTT 4 Máy Vi tính Nhiều chủng loại Đồng bộ đạt chuẩn 5 Máy chiếu 01 01 6 Sử dụng giáo án điện tử Hạn chế 100% CBGV Thường xuyên sử dụng các các hội Sử dụng thiết bị trình nghị: Hội nghị khoa học, các chuyên chiếu điện tử trong các 7 Hạn chế đề BDTX, sinh hoạt câu lạc bộ, các hội nghị, chuyên đề tại chương trình hoạt động tập thể của trường. trường, địa phương. Sử dụng dạy trên tivi có 8 Chưa có Đã có (số lượng chưa nhiều) kết nối Internet 9 Mạng Internet Khai thác hạn chế Khai thác tối đa 10 Website 3 3 11 Ngân hàng dữ liệu ít Nhiều Quản lý thông tin trong 14 Hạn chế 100% CBGV nhà trường bằng CNTT 15 Phần mền ít Nhiều 16 Giảng dạy tin học 12 lớp/ năm 12 lớp/ năm *. Khả năng áp dụng và nhân rộng; Sáng kiến kinh nghiệm: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và tổ chức quản lý ở trường tiểu học.” áp dụng rộng rãi trong mọi cấp học phù hợp với mọi xu thế của thời đại bởi vì công nghệ thông tin luôn luôn phát triển mạnh mẽ trong cuộc sống con người nhằm phục vụ tốt cho thế giới chúng ta. Với ngành giáo dục – đào tạo thì luôn biến đổi cả về lượng và chất, khả năng sáng tạo của con người là vô hạn, CNTT luôn phát minh ra cái mới đòi hỏi con người luôn luôn không ngừng phải học tập để theo kịp nắm bắt cái mới phục vụ cho công tác điều hành, quản lý, chỉ đạo trong giảng dạy vào học tập của học sinh trong thời kỳ hội nhập của đất nước. IV. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền. - Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm của tôi không sao chép hoặc vi phạm bản quyền. - Để hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này, bản thân đó nỗ lực nghiên cứu rất mong được sự đóng góp của cấp trên, của đồng nghiệp. - Tôi xin trân thành cảm ơi! 12 Đại Thắng, tháng 6 năm 2020 TÁC GIẢ SÁNG KIẾN Vũ Văn Nghiêm 13 CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN (ghi rõ nhận xét, phạm vi ảnh hưởng và hiệu quả áp dụng có đạt được mức cơ sở hay không, tính mới của sáng kiến là gì?) .......................................................................................................................... .......................................................................................................................... .......................................................................................................................... .......................................................................................................................... .......................................................................................................................... .......................................................................................................................... (Ký tên, đóng dấu) XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD&ĐT (ghi rõ nhận xét, phạm vi ảnh hưởng và hiệu quả áp dụng có đạt được mức huyện hay không, tính mới của sáng kiến là gì?) .......................................................................................................................... .......................................................................................................................... .......................................................................................................................... .......................................................................................................................... .......................................................................................................................... .......................................................................................................................... (Ký tên, đóng dấu) 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tham khảo là sách ghi như sau: Tên tác giả hoặc cơ quan ban hành; năm xuất bản (đặt trong ngoặc đơn). Tên sách (ghi nghiêng, dấu phẩy cuối), lần xuất bản (chỉ ghi mục này với lần xuất bản thứ hai trở đi), nhà xuất bản (dấu phẩy cuối tên nhà xuất bản); nơi xuất bản (ghi tên thành phố, không phải ghi tên quốc gia, đặt dấu chấm kết thúc). Nếu sách có hai tác giả thì sử dụng chữ và (hoặc chữ and) để nối tên hai tác giả. Nếu sách có 3 tác giả trở lên thì ghi tên tác giả thứ nhất và cụm từ cộng sự (hoặc et al.). Ví dụ: 1. Nguyễn Văn A (2005), Kinh tế, NXB... 2. Nguyễn Văn B (2006), Văn hóa, NXB... 3. Phạm Thắng và Đoàn Quốc Hưng (2007). Bệnh mạch máu ngoại vi, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. 4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002). Các văn bản pháp luật về đào tạo sau đại học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội. 5. Boulding K.E (1995). Economic Analysis, Hamish Hamilton, London 6. Grace B. et al (1988). A history of the world, NJ: Princeton University Press, Princeton. 7. Trần Thừa (1999). Kinh tế học vĩ mô, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội. Tác giả là người nước ngoài: Xếp thứ tự ABC theo họ. Tác giả là người Việt Nam: Xếp thứ tự ABC theo tên nhưng vẫn giữ nguyên thứ tự thông thường của tên người Việt Nam, không đảo tên lên trước họ. Tài liệu không có tên tác giả thì xếp theo thứ tự ABC từ đầu của tên cơ quan ban hành báo cáo hay ấn phẩm, ví dụ: Tổng cục Thống kê xếp vào vần T, Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp vào vần B, v.v Tài liệu tham khảo là bài báo trong tạp chí, tập san được trình bày như sau: Họ và tên tác giả được viết đầy đủ đối với tên người Việt Nam; Họ (viết đầy đủ), tên gọi và tên đệm (viết tắt) đối với tên người nước ngoài. Nếu bài báo có nhiều tác giả, cần ghi tên 3 tác giả đầu và cộng sự (et al-tiếng Anh), năm xuất bản (trong ngoặc đơn). Tên bài báo. Tên tạp chí, tập san (ghi nghiêng), tập (số, không có dấu ngăn cách, đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy sau ngoặc đơn), các số trang (gạch nối giữa hai số, dấu chấm kết thúc). Ví dụ: 1. Nguyễn Kim Sơn, Phạm Hùng Vân, Nguyễn Bảo Sơn và cộng sự (2010). Đột biến gen mã hóa EGFR trong ung thư phổi. Tạp chí nghiên cứu y học, 3, 30-37. 2. Amanda B.R, Donna P.A, Robin J.L et al (2008). Total prostate specific antigen stability confirmed after long-term storage of serum at -80C. J.Urol, 180(2), 534-538. Tài liệu tham khảo là luận án, luận văn, khóa luận ghi như sau: Tên tác giả, năm xuất bản (đặt trong ngoặc đơn). Tên đề tài luận án, luận văn (ghi nghiêng, dấu phẩy cuối tên luận án/luận văn), bậc học, tên chính thức của cơ sở đào tạo. Ví dụ: 15 1. Đoàn Quốc Hưng (2006). Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngoại khoa bệnh thiếu máu chi dưới mạn tính do vữa xơ động mạch, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội. 2. Nguyễn Hoàng Thanh (2011). Nghiên cứu mức sẵn sàng chi trả cho cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường tại huyện Kim Bảng, Hà Nam năm 2010, Luận văn Thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội. Tài liệu tham khảo là một chương (một phần) trong cuốn sách ghi như sau: Họ và tên tác giả hoặc cơ quan ban hành; năm xuất bản (đặt trong ngoặc đơn). Tên phần (hoặc chương), Tên sách (ghi nghiêng, dấu phẩy cuối tên), lần xuất bản (chỉ ghi mục này với lần xuất bản thứ hai trở đi), nhà xuất bản (dấu phẩy cuối tên nhà xuất bản); nơi xuất bản (ghi tên thành phố, không phải ghi tên quốc gia), tập, trang.. Nếu sách có hai tác giả thì sử dụng chữ và (hoặc chữ and) để nối tên hai tác giả. Nếu sách có 3 tác giả trở lên thì ghi tên tác giả thứ nhất và cụm từ cộng sự (hoặc et al.). Ví dụ: Kouchoukos N.T (2013). Postoperative care. Kirklin/Barratt-Boyes Cardiac Surgery, fourth edition, Elsevier Saunder, Philadenphia, 1, 190-249.Bottom of Form Tài liệu tham khảo là luận án, luận văn, khóa luận ghi như sau: Tên tác giả, năm xuất bản (đặt trong ngoặc đơn). Tên đề tài luận án, luận văn (ghi nghiêng, dấu phẩy cuối tên luận án/luận văn), bậc học, tên chính thức của cơ sở đào tạo. Ví dụ: – Đoàn Quốc Hưng (2006). Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngoại khoa bệnh thiếu máu chi dưới mạn tính do vữa xơ động mạch, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội. – Nguyễn Hoàng Thanh (2011). Nghiên cứu mức sẵn sàng chi trả cho cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường tại huyện Kim Bảng, Hà Nam năm 2010, Luận văn Thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội. Tài liệu tham khảo là bài báo đăng trong các kỷ yếu của hội nghị, hội thảo, diễn đàn... ghi như sau: Tên tác giả (năm). Tên bài báo. Tên kỷ yếu/tên hội nghị/diễn đàn (ghi nghiêng), Địa điểm, thời gian tổ chức, cơ quan tổ chức, số thứ tự trang của bài báo trong kỷ yếu. Ví dụ: – Nguyễn Đức Chính, Phạm Hải Bằng, Phạm Văn Trung và cs (2013). Nhận xét tình hình bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS điều trị tại bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2010-2012. Hội nghị khoa học quốc gia về phòng chống HIV/AIDS lần thứ V, Trường Đại học Y Hà Nội ngày 2- 3/12/2013, Bộ Y tế, 342-346 Tài liệu tham khảo là các giáo trình, bài giảng hay tài liệu lưu hành nội bộ: Cần cung cấp thông tin cơ bản về tên tác giả, năm xuất bản, tên giáo trình, bài giảng, nhà xuất bản (nếu có), đơn vị chủ quản. Ví dụ: 16 – Tạ Thành Văn (2013). Giáo trình Hóa sinh lâm sàng. Nhà xuất bản Y học, Trường Đại học Y Hà Nội – Hội đồng chức danh Nhà nước (2012). Văn bản pháp quy và tài liệu hướng dẫn việc xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2012. Hà Nội, tháng 5 năm 2012. Tài liệu tham khảo trích dẫn từ nguồn internet, báo mạng (hết sức hạn chế loại trích dẫn này). Tên tác giả (nếu có), năm (nếu có). Tên tài liệu tham khảo, <đường dẫn để tiếp cận tài liệu đó>, thời gian trích dẫn. Ví dụ: 1. Nguyễn Trần Bạt (2009). Cải cách giáo dục Việt Nam, <>, xem 12/3/2009 2. Anglia Ruskin University. Havard system of Referencing Guide. [online] Available at: [Accessed 12 August 2011] 17 CÁC PHỤ LỤC (Kèm theo Báo cáo sáng kiến) 1. Bản vẽ mô tả chi tiết giải pháp kỹ thuật của sáng kiến (nếu có) 2. Ảnh minh họa sáng kiến được áp dụng trong thực tế (nếu có) 3. Sản phẩm khác kèm theo (nếu có) 4. Giấy chứng nhận sáng kiến có phạm vi và hiệu quả áp dụng cấp cơ sở 5. Các Giấy xác nhận sáng kiến được áp dụng hiệu quả tại đơn vị nào đó (càng được áp dụng nhiều trường thì phạm vi ảnh hưởng càng lớn, căn cứ để xét cấp ngành) (bản phô tô).
File đính kèm:
skkn_day_manh_ung_dung_cong_nghe_thong_tin_trong_giang_day_v.doc

