SKKN Biện pháp sử dụng thiết bị dạy học số vào dạy học kỹ năng nói nghe tương tác trong môn Tiếng Việt Lớp 2 nhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh
Chúng ta mong muốn gì ở học sinh khi dạy kỹ năng nói nghe tương tác trong môn Tiếng Việt lớp 2? Chúng ta mong muốn đó là: Học sinh tham gia tích cực trong hoạt động học bằng cách lắng nghe và tương tác tốt như thảo luận nhóm lớn, nhóm đôi, đưa ra các câu hỏi, đưa ra ý kiến và thể hiện ý kiến của mình một cách dứt khoát, mạnh dạn, tự tin. Học sinh biết sử dụng ngôn ngữ và diễn đạt ngôn ngữ sao cho thật trôi chảy, phù hợp. Bên cạnh đó học sinh còn thể hiện được thái độ qua ánh mắt, cử chỉ, khuôn mặt, cơ thể. Học sinh biết lắng nghe người khác nói và không nói chen ngang khi người khác đang nói…
Nhưng thực tế khi dạy học kỹ năng nói nghe tương tác, học sinh còn có một số hạn chế như sau: Một số em chưa chú ý khi học, khả năng giao tiếp còn hạn chế, nhút nhát, lơ đễnh, đọc chưa trôi chảy, còn đánh vần… Khi luyện kĩ năng nói nghe tương tác nhiều học sinh chưa tự tin trước lớp. Ngôn ngữ diễn đạt còn hạn chế, gò bó mình. Nhiều em chưa biết hợp tác với bạn để thảo luận, chia sẻ, trình bày ý kiến của mình về một vấn đề, một nhân vật, một câu chuyện. Nhiều học sinh đã dám tự đứng trước lớp để diễn đạt ý mình nói nhưng chưa thể hiện được điệu bộ, nét mặt, cử chỉ, ánh mắt trong giao tiếp. Người thân của các em giao tiếp với nhau bằng tiếng địa phương nên các em cũng học tập theo.
Bởi vậy, làm thế nào để rèn luyện kỹ năng nói nghe tương tác trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 2? Đó là một câu hỏi mà hầu hết các giáo viên đều trăn trở trong quá trình dạy học. Đối với bản thân tôi đó là một sự tìm tòi, nghiên cứu nên tôi mạnh dạn trình bày: “Biện pháp sử dụng thiết bị dạy học số vào dạy học kỹ năng nói nghe tương tác trong môn Tiếng Việt lớp 2 nhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh”.
Thiết bị dạy học số cung cấp cho giáo viên và học sinh nhiều công cụ và tài nguyên học tập. Nó giúp tạo ra một môi trường học tập linh hoạt và tương tác, cung cấp cơ hội cho học sinh tham gia học tập tích cực. Việc sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học số sẽ mang đến cho học sinh những trải nghiệm mới mẻ, thú vị. Từ đó giúp các em tiếp thu kiến thức tốt hơn góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.
Giao tiếp ngôn ngữ là một hoạt động đặc thù và quan trọng nhất của con người. Do vậy luyện kĩ năng nói nghe tương tác cho học sinh lớp 2 chính là quá trình nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ nhằm cung cấp cho các em một công cụ giao tiếp và tư duy, giúp các em có năng lực giao tiếp tốt trong học tập và sinh hoạt hằng ngày.Là giáo viên tôi rất quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông mới. Coi học sinh là trung tâm của hoạt động giáo dục, giáo viên là người hướng dẫn, đồng hành với học sinh, giúp học sinh tự tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Biện pháp sử dụng thiết bị dạy học số vào dạy học kỹ năng nói nghe tương tác trong môn Tiếng Việt Lớp 2 nhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh
1. Lí do chọn biện pháp Chúng ta mong muốn gì ở học sinh khi dạy kỹ năng nói nghe tương tác trong môn Tiếng Việt lớp 2? Chúng ta mong muốn đó là: Học sinh tham gia tích cực trong hoạt động học bằng cách lắng nghe và tương tác tốt như thảo luận nhóm lớn, nhóm đôi, đưa ra các câu hỏi, đưa ra ý kiến và thể hiện ý kiến của mình một cách dứt khoát, mạnh dạn, tự tin. Học sinh biết sử dụng ngôn ngữ và diễn đạt ngôn ngữ sao cho thật trôi chảy, phù hợp. Bên cạnh đó học sinh còn thể hiện được thái độ qua ánh mắt, cử chỉ, khuôn mặt, cơ thể. Học sinh biết lắng nghe người khác nói và không nói chen ngang khi người khác đang nói Nhưng thực tế khi dạy học kỹ năng nói nghe tương tác, học sinh còn có một số hạn chế như sau: Một số em chưa chú ý khi học, khả năng giao tiếp còn hạn chế, nhút nhát, lơ đễnh, đọc chưa trôi chảy, còn đánh vần Khi luyện kĩ năng nói nghe tương tác nhiều học sinh chưa tự tin trước lớp. Ngôn ngữ diễn đạt còn hạn chế, gò bó mình. Nhiều em chưa biết hợp tác với bạn để thảo luận, chia sẻ, trình bày ý kiến của mình về một vấn đề, một nhân vật, một câu chuyện. Nhiều học sinh đã dám tự đứng trước lớp để diễn đạt ý mình nói nhưng chưa thể hiện được điệu bộ, nét mặt, cử chỉ, ánh mắt trong giao tiếp. Người thân của các em giao tiếp với nhau bằng tiếng địa phương nên các em cũng học tập theo. Bởi vậy, làm thế nào để rèn luyện kỹ năng nói nghe tương tác trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 2? Đó là một câu hỏi mà hầu hết các giáo viên đều trăn trở trong quá trình dạy học. Đối với bản thân tôi đó là một sự tìm tòi, nghiên cứu nên tôi mạnh dạn trình bày: “Biện pháp sử dụng thiết bị dạy học số vào dạy học kỹ năng nói nghe tương tác trong môn Tiếng Việt lớp 2 nhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh”. Thiết bị dạy học số cung cấp cho giáo viên và học sinh nhiều công cụ và tài nguyên học tập. Nó giúp tạo ra một môi trường học tập linh hoạt và tương tác, cung cấp cơ hội cho học sinh tham gia học tập tích cực. Việc sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học số sẽ mang đến cho học sinh những trải nghiệm mới mẻ, thú vị. Từ đó giúp các em tiếp thu kiến thức tốt hơn góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. Giao tiếp ngôn ngữ là một hoạt động đặc thù và quan trọng nhất của con người. Do vậy luyện kĩ năng nói nghe tương tác cho học sinh lớp 2 chính là quá trình nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ nhằm cung cấp cho các em một công cụ giao tiếp và tư duy, giúp các em có năng lực giao tiếp tốt trong học tập và sinh hoạt hằng ngày. Là giáo viên tôi rất quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông mới. Coi học sinh là trung tâm của hoạt động giáo dục, giáo viên là người hướng dẫn, đồng hành với học sinh, giúp học sinh tự tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức. 2. Mục đích của biện pháp: Biện pháp sử dụng thiết bị dạy học số vào dạy học kỹ năng nói nghe tương tác trong môn Tiếng Việt lớp 2 nhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh, có những mục đích như sau: Tăng cường khả năng nói nghe tương tác từ nhiều nguồn tài liệu và tài nguyên khác 2 nhau. Học sinh có thể trao đổi trong nhóm về một vấn đề, một câu chuyện, một nhân vật, thông qua những thiết bị số như máy tính, ti vi, số tranh, video MP4 Tăng cường sự hứng thú và tương tác của học sinh trong quá trình học môn Tiếng Việt, giúp học sinh chú ý lắng nghe, biết đóng góp ý kiến của mình với bạn thông qua bài học, không chen ngang khi các bạn đang nói. Giúp học sinh tiếp thu kiến thức và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống hàng ngày tốt hơn. Biện pháp cũng là cách để giáo viên tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chuyển đổi số trong quá trình dạy học. 3. Cơ sở lý luận 3.1. Cơ sở khoa học Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo: Thiết bị dạy học số (hay còn gọi là thiết bị giảng dạy số) là các công cụ và thiết bị kỹ thuật số được sử dụng trong quá trình dạy và học để tăng cường hiệu quả và tương tác trong quá trình giảng dạy. Các thiết bị dạy học số có thể là phần mềm, ứng dụng, trang web, bảng tương tác, máy tính bảng, máy chiếu, máy tính cá nhân, máy tính xách tay, máy tính bảng, thiết bị di động và nhiều công nghệ khác. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng thiết bị dạy học số sẽ tạo ra môi trường học tập kích thích và tương tác cho học sinh nhằm nâng cao kỹ năng nói nghe tương tác Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học: Cả hai mặt nhận thức của học sinh tiểu học (cảm tính và lý tính) đều ở dạng ban sơ, đang trong quá trình phát triển nên chưa hoàn thiện, dễ bị thay đổi. Chúng ta thấy các em buồn đó, nhưng lại vui nhanh, dễ nhớ nhưng mau quên, cảm xúc thay đổi nhanh chóng. Do vậy trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển tốt hơn trí nhớ từ ngữ - logic. Các em dễ ghi nhớ và nhớ lại tốt những gì được trực tiếp tác động lên đó hơn những gì được giảng giải (mang tính chất hình ảnh, cụ thể, trực tiếp). Giáo viên thường đưa những hình ảnh, video có âm thanh, hình ảnh sinh động vào bài giảng kết hợp với diễn giải bằng lời để các em tiếp thu bài tốt hơn, nhớ lâu hơn, ... 3.2. Cơ sở pháp lý Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Tăng cường ứng dụng Công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng 2030” có ghi rõ ở phần Quan điểm đó là : “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số tạo đột phá trong đổi mới hoạt động giáo dục và đào tạo . Người học và nhà giáo là trung tâm của quá trình chuyển đổi số, lợi ích mang lại cho người học, đội ngũ nhà giáo và người dân là thước đo chủ yếu đánh giá mức độ thành công của chuyển đổi số.” 3.3. Cơ sở thực tiễn Trường Tiểu học số 2 An Thủy thuộc địa bàn xã An Thủy, gồm có 11 lớp với 338 học sinh. An Thủy là một xã thuần nông, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt tôi nhận thấy nhiều em học sinh kỹ năng nói nghe nói 3 chung và kỹ năng nói nghe tương tác nói riêng còn nhút nhát, e dè, chưa biết diễn đạt lời nói sao cho đủ câu, đủ ý. Nhiều em sử dụng từ ngữ chưa phù hợp với từng hoàn cảnh, nội dung bài học. Các em chưa mạnh dạn trao đổi trong bài học, hợp tác nhóm với bạn còn hạn chế, nói nhỏ. 4. Cách thức tiến hành 4.1. Xác định yêu cầu cần đạt của nói nghe tương tác trong môn Tiếng Việt lớp 2, khảo sát thiết bị số hỗ trợ dạy học và kỹ năng nói nghe tương tác của học sinh lớp 2B Thông tư số 32/2018/TT – BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 về việc ban hành Chương trình tổng thể giáo dục phổ thông đã ghi rõ yêu cầu cần đạt của nói nghe tương tác trong môn Tiếng Việt lớp 2 đó là: “Biết trao đổi trong nhóm về các nhân vật trong câu chuyện dựa vào gợi ý; Biết trao đổi trong nhóm về một vấn đề: chú ý lắng nghe người khác, đóng góp ý kiến của mình, không nói chen ngang khi người khác đang nói”. Khảo sát thiết bị dạy học số phục vụ dạy và học trong nói nghe tương tác ở học kỳ I năm học 2023 – 2024 như sau: Phần Tranh mềm Chủ đề Bài Video ảnh Power Point Bài 1:Tôi là học sinh lớp 2 x x Em lớn lên Bài 3: Niềm vui của Bi và Bống x x từng ngày Bài 5: Em có xinh không? x x x Bài 7: Cây xấu hổ x x Bài 9: Cô giáo lớp em x x Bài 11: Cái trống trường em x x Đi học vui sao Bài 13: Yêu lắm trường ơi x x Bài 15: Cuốn sách của em x x Bài 17: Gọi bạn x x Niềm vui Bài 19: Chữ A và những người bạn x x tuổi thơ Bài 21: Thả diều x x x Bài 23: Rồng rắn lên mây x x x Bài 25: Sự tích hoa tỷ muội x x Bài 27: Mẹ x x Mái ấm gia đình Bài 29: Cánh cửa nhớ bà x x x Bài 31: Ánh sáng của yêu thương x x x 4 Khảo sát kỹ năng nói nghe tương tác của học sinh lớp 2B vào tháng 9 năm học 2023 -2024 như sau: HTT HT CHT Nội dung tiêu chí SLHS SL % SL % SL % Học sinh biết trao đổi trong nhóm về một vấn đề, các nhân vật trong câu 26 19 73,1 6 23,1 1 3,8 chuyện Học sinh biết lắng nghe, trao đổi trong nhóm về nội dung của câu 26 12 46,2 8 30,8 6 23,0 chuyện Học sinh biết đóng vai, đóng góp ý kiến trong nhóm về một vấn đề, câu 26 8 30,8 10 38,4 8 30,8 chuyện bạn kể, không chen ngang khi bạn đang nói Qua khảo sát kỹ năng nói nghe tương tác của lớp 2B, chúng ta thấy tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành ở các tiêu chí khá cao. Ở mức độ khảo sát tiêu chí cao nhất đó là học sinh biết đóng vai, biết đóng góp ý kiến trong nhóm về một vấn đề, câu chuyện bạn kể, không chen ngang khi bạn đang nói mức độ hoàn thành tốt đang thấp chỉ có 08 em chiếm tỷ lệ 30,8%. Từ việc khảo sát ở trên nên một thực trạng được đặt ra là kỹ năng nói nghe tương tác của học sinh lớp 2B còn nhiều hạn chế, cần khắc phục. 4.2. Khai thác tối đa hiệu quả của Power Point Power Point nằm trong bộ công cụ Microsoft Office, là một phần mềm trình chiếu sử dụng các slide để truyền tải thông tin. Nó cho phép người dùng tạo ra những slide phục vụ các buổi thuyết trình để thể hiện những thông điệp trong các lớp học hoặc buổi họp. Với những công dụng tuyệt vời, Power Point là công cụ vô cùng hữu ích và được sử dụng rộng rãi trong dạy học. Đối với bản thân tôi trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 2 mà cụ thể là giảng dạy kỹ năng nói nghe tương tác tôi đã vận dụng Power Point như sau: - Thiết kế những câu hỏi phù hợp với chủ đề, bài học mà các em đang học, hiệu ứng các slide để đưa vào giảng dạy cụ thể tại các tiết học, giúp các em quan sát theo dõi ở màn hình tivi. Dựa vào các câu hỏi, bức tranh gợi ý các em trao đổi trong nhóm (nhóm đôi) kể về những ngày hè của em, một bạn hỏi, một bạn trả lời Ví dụ 1: Nói – Nghe: Những ngày hè của em – trang 12 (Bài 1: Tôi là học sinh lớp 2) tôi đã thiết kế các câu hỏi đó là: + Nghỉ hè, bạn được đi những đâu? + Bạn tham gia những hoạt động nào? + Bạn nhớ nhất điều gì? Ví dụ 2: Nói – Nghe: Những ngày hè của em – trang 12 (Bài 1: Tôi là học sinh lớp 2) tôi đã 5 thiết kế các câu trả lời với những hình ảnh gợi mở cho học sinh quan sát qua màn hình tivi như sau: - Lựa chọn những bức tranh thích hợp với bài học để đưa vào bài giảng powerpoint cho học sinh trong nhóm quan sát, các em tự trao đổi trong nhóm (nhóm lớn) về các bức tranh, thảo luận và đưa ra đáp án. Ở đây tôi cho học sinh đóng vai hai nhân vật Bi và Bống, một học sinh là người dẫn chuyện để kể về câu chuyện Niềm vui của Bi và Bống. Ví dụ 3: Nói – Nghe: Nói tiếp để hoàn thành câu dưới tranh: Niềm vui của Bi và Bống – trang 19 (Bài 3: Niềm vui của Bi và Bống) Khi khai thác tối đa hiệu quả của Power Point, trong dạy học kỹ năng nói nghe tương tác tôi thấy có những hiệu quả sau: + Học sinh chăm chú, theo dõi các slide gợi ý câu hỏi, câu trả lời, hình ảnh để trao đổi trong 6 nhóm rất tốt; + Học sinh biết trao đổi với bạn về các nhân vật, nội dung câu chuyện và biết lắng nghe bạn kể; + Nhờ các hiệu ứng của các slide mà kích thích học sinh hứng thú học tập; + Giáo viên dễ quan sát, quản lý học sinh trong quá trình giảng dạy; + Nắm bắt được đối tượng học sinh rõ ràng và có sự hỗ trợ kịp thời. Tuy nhiên khi sử dụng Powr Point chúng ta cần lưu ý một số nội dung sau: + Các slide thật đơn giản về hiệu ứng; + Màu sắc và font chữ phải phù hợp; + Tranh, ảnh đúng kích cỡ. 4.3. Sử dụng thiết bị số Tranh Trong dạy học kỹ năng nói nghe tương tác của môn Tiếng Việt lớp 2, để tăng sự hứng thú, tương tác, giao tiếp, trao đổi, thảo luận cho học sinh chúng ta cần sử dụng các hình ảnh theo diễn biến câu chuyện. Tôi đã sử dụng thiết bị số “Tranh” để thực hiện dạy học kỹ năng này. Thiết bị số tranh là sự kết hợp các thao tác trên Microsoft Office Word, sau đó chuyển sang file PDF. Thiết bị số Tranh được sử dụng ở các bài ôn tập giữa kỳ I, cuối kỳ I. Giúp các em củng cố lại các bài học, các câu chuyện thông qua các chuỗi “Tranh”. Cụ thể các bước thiết kế thiết bị số “Tranh” như sau: Bước 1: Tìm ảnh cần làm, bỏ vào file word. Bước 2: Tạo mục lục trên trang 1 của file word. Trong mục lục ghi rõ tranh gì, câu chuyện gì Bước 3: Trên file word, tạo liên kết từ tên tranh đến trang chứa tranh và ngược lại (từ trang chứa tranh đến mục lục) Tạo tên Bookmark: Vào chọn ảnh 1: Chọn ảnh, vào Insert, vào Bookmark. Đặt tên hình1, chọn Add Tạo liên kết: Chọn tên hình 1 ở bảng Vào Insert, vào Hyperlink, Bookmark hình1 => OK - Bôi chọn cả bảng, vào Insert, vào Bookmark, Home, chọn Add - Viết Home với hình 1 Chọn Home, vào Hyperlink, chọn Home => OK Copy Home dưới hình 1 cho các hình còn lai. Bước 4: Chuyển file word đã tạo thành file PDF Chúng ta vào File => Save as, ở bảng con Save as: ở ô Save as type chúng ta chọn PDF , sau đó ấn Save. Ví dụ: Khi dạy bài Ôn tập giữa học kỳ I (Tiết 7 +8) tôi đã hệ thống lại các tranh trong các câu chuyện như: Niềm vui của Bi và Bống; Em có xinh không?; Chú đỗ con; Cậu bé ham học 7 Từ các bức tranh được sắp xếp lại theo trình tự câu chuyện các em trong nhóm quan sát bức tranh, thảo luận, trao đổi trong nhóm, chọn bức tranh đúng với câu chuyện đã được học, kể lại nội dung của bức tranh hoặc kể lại toàn bộ câu chuyện và nêu lại được ý nghĩa nội dung của câu chuyện, bài học rút ra cho bản thân. Các bước để thực hiện hoạt động này như sau: Bước 1: Giáo viên thiết kế “thiết bị số tranh” từ các bức tranh trong các câu chuyện các em đã được học Bước 2: Học sinh lắng nghe giáo viên hướng dẫn các việc cần làm Bước 3: Các nhóm quan sát các bức tranh được chiếu ở màn hình tivi Bước 4: Các nhóm thảo luận, tương tác trong nhóm (nhóm lớn) chọn bức tranh đúng với câu chuyện đã học, kể lại nội dung của bức tranh, bài học rút ra Bước 5: Các nhóm cử bạn trình bày ý kiến của nhóm mình Bước 6: Các nhóm thảo luận, chia sẻ với nhóm bạn và lắng nghe giáo viên nhận xét, đánh giá, tuyên dương. Khi sử dụng Thiết bị số “Tranh” trong quá trình dạy học kỹ năng nói nghe tương tác, tôi thấy mang lại những hiệu quả thiết thực như sau: - Thuận lợi cho giáo viên trong việc sử dụng công nghệ thông tin với thiết bị số “Tranh” trong dạy học kỹ năng nói nghe tương tác của môn Tiếng Việt lớp 2 - Học sinh dễ quan sát tranh theo trình tự của câu chuyện - Dựa vào các bức tranh học sinh trong nhóm thảo luận, trao đổi và bày tỏ ý kiến của mình với bạn, với giáo viên về các nhân vật, về nội dung của câu chuyện - Giảm bớt thao tác sử dụng tranh ảnh thật trong dạy học - Đỡ chi phí cho nhà trường trong việc mua sắm thiết bị tranh phục vụ dạy học. 4.4. Sử dụng phần mềm Proshow producer Phần mềm Proshow Producer là một phần mềm, một công cụ mạnh mẽ để tạo và chỉnh sửa các video trình chiếu chuyên nghiệp. Nó giúp tạo ra những hình ảnh đơn thuần trở thành những hình ảnh động với nhiều hiệu ứng kết hợp với âm thanh, nhạc để tạo ra các video hình ảnh đẹp mắt. Khi sử dụng phần mềm này tôi đã ghi âm các câu chuyện trong bài học, lồng ghép các bức tranh, các hình ảnh, bài hát liên quan đến nội dung câu chuyện đưa vào phần mềm. Với các thao tác kỹ thuật trên phần mềm thì tạo ra được các video MP4 kể mẫu các câu chuyện cho học sinh nghe. - Các bước để tạo ra một video trên phần mềm Proshow producer như sau: Bước 1: Tải ảnh, video bài hát có liên quan đến câu chuyện và lưu vào một foder trong máy tính Bước 2: Ghi âm lại câu chuyện kể và lưu vào foder với ảnh, video bài hát 8 Bước 3: Mở phần mềm Proshow producer đã được cài đặt sẵn từ máy tính Bước 4: Vào phần mềm Proshow producer để tiến hành tạo sideshow ảnh, nhấn chọn vào mục mục New, hoặc nhấn chọn vào File > New Show. Nhấn chọn vào những hình ảnh cần tạo thành video rồi nhấn Open để tải ảnh lên Proshow Producer. Bước 5. Làm tương tự như vậy đối với file ghi âm và file nhạc. (Lưu ý: file ghi âm có đuôi MP3; file nhạc có ảnh thì có đuôi MP4) Bước 6. Điều chỉnh lại các hiệu ứng, thời gian của ảnh phù hợp với lời thoại bản ghi âm câu chuyện Bước 7. Chuyển sang giao diện mới. Để xuất video mới tạo thành nhấn nút Publish ở trên cùng giao diện. Để lưu slideshow dưới định dạng video, nhấn vào mục Video. Lựa chọn chất lượng cho video, lưu video vào thiết bị nào Android hay Apple rồi nhấn nút Create ở bên dưới để lưu video.Video sẽ ở định dạng mp4, nhập tên cho video rồi nhấn nút Save để lưu lại. Ví dụ 1: Khi dạy bài “Rồng rắn lên mây” phần Nói – nghe kể câu chuyện Búp bê biết khóc, tôi đã làm một video trong đó có ảnh, bài hát Thế giới đồ chơi được lòng ghép với giọng kể của giáo viên. Ví dụ 2: Khi dạy bài thơ “Cánh cửa nhớ bà” phần Nói – nghe kể câu chuyện Bà cháu, tôi đã làm một video trong đó có ảnh của câu chuyện, bài hát “Cháu yêu bà” với giọng kể của giáo viên. - Các bước tiến hành cho hoạt động nói nghe tương tác này như sau: Bước 1: Học sinh cả lớp cùng nghe mẫu video kể câu chuyện mà giáo viên tạo nên từ phần mềm Proshow produccer Bước 2: Học sinh các nhóm thảo luận và nói cho nhau nghe được trong câu chuyện có những nhân vật nào Bước 3: Học sinh vừa quan sát tranh vừa thảo luận để chọn bạn phân vai Bước 4: Các nhóm lần lượt kể câu chuyện của mình sau khi được phân vai Bước 5. Các nhóm chia sẻ, thảo luận, đóng góp ý kiến cho các nhóm khác và chọn nhóm kể câu chuyện hay nhất Bước 6. Các nhóm thảo luận và rút ra ý nghĩa nội dung, bài học cho bản thân - Hiệu quả của biện pháp: + Các video câu chuyện được giáo viên tạo mẫu này sẽ giúp học sinh hứng thú trong bài học, rất chăm chú lắng nghe. Nó giúp học sinh tiếp cận bài học một cách mới mẻ so với việc giáo viên cầm sách kể rất nhàm chán. + Các em đã biết tương tác với bạn để phân vai, đóng vai nhân vật, đóng góp ý kiến của mình đối với các nhóm khác + Khi kể lại một đoạn hay toàn bộ câu chuyện, học sinh cũng đã biểu lộ cảm xúc, giọng kể của mình qua các nhân vật rất hay. 9 4.5. Tổ chức trò chơi Lồng tiếng để tạo hứng thú cho học sinh Trò chơi là một hoạt động mà mục đích chính là giúp các em thư giãn, tạo hứng thú trong học tập. Bên cạnh đó còn giúp các em củng cố kiến thức, giúp các em hợp tác, tương tác với bạn trong nhóm.Quá trình dạy học phần kỹ năng nói nghe tương tác tôi đã sử dụng trò chơi Lồng tiếng. Đây là một trò chơi mà giáo viên cho học sinh lồng tiếng của nhân vật từ những video có sẵn nhưng cắt lời thoại. Học sinh dựa vào cử chỉ, khuôn mặt, trang phục để tự đặt lời thoại cho nhân vật Ví dụ: Khi dạy bài 27: Mẹ, phần Nói – Nghe, tôi cho học sinh xem 1 video kể về một câu chuyện cậu bé hiếu thảo tìm mọi cách để cứu mẹ mình khỏi bệnh. Video được cắt tiếng, học sinh quan sát, sau đó sẽ lồng tiếng từng nhân vật kể lại một đoạn của câu chuyện. Các bước để thực hiện biện pháp này như sau: Bước 1: Giáo viên phải tải các video có nội dung phù hợp với nội dung bài học từ các nguồn học liệu trên mạng Internet, bỏ âm thanh lời thoại của nhân vật Bước 2: Hướng dẫn học sinh chơi trò chơi, tiêu chí nêu ra để đánh giá Bước 3. Học sinh xem video (không có lời thoại của nhân vật) Bước 4. Học sinh trong nhóm thảo luận để đặt lời thoại cho nhân vật Bước 5. Các nhóm tổ chức chơi lồng tiếng cho các nhân vật trong video Bước 6. Học sinh các nhóm xem lại video (có lời thoại của nhân vật) Bước 7. Trao đổi, thảo luận để chọn nhóm lồng tiếng hay nhất và phù hợp với hoàn cảnh. Lắng nghe giáo viên nhận xét, đánh giá, tuyên dương, khen thưởng Qua tổ chức trò chơi sau mỗi bài học, tôi thấy học sinh rất thích thú, hứng khởi, tò mò. Trò chơi cũng giúp học sinh tương tác với bạn để tìm lời thoại cho nhân vật, ôn tập lại kiến thức bài học một cách thoải mái và hiệu quả. 5. Kết quả thực hiện biện pháp. Với “Biện pháp sử dụng thiết bị dạy học số vào dạy học kỹ năng nói nghe tương tác trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 2 nhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh” nên chất lượng môn Tiếng Việt nói chung và kỹ năng nói nghe tương tác của học sinh lớp 2B tôi đang giảng dạy có sự chuyển biến tích cực. Cụ thể như thống kê dưới đây: Khi chưa thực hiện BP Sau khi thực hiện BP SL Tiêu chí HHT HT CHT HTT HT CHT HS SL % SL % SL % SL % SL % SL % Học sinh biết trao đổi trong nhóm về 26 19 73,1 6 23,1 1 3,8 25 96,2 1 3,8 0 0 một vấn đề, các nhân vật trong câu chuyện Học sinh biết lắng 26 12 46,2 8 30,8 6 23,0 18 69,2 8 30,8 0 0 nghe, trao đổi trong 10 nhóm về nội dung của câu chuyện Học sinh biết đóng vai, đóng góp ý kiến trong nhóm về một vấn đề, câu chuyện 26 8 30,8 10 38,4 8 30,8 20 77,0 6 23,0 0 0 bạn kể, không chen ngang khi bạn đang nói *Qua kết quả trên cho chúng ta thấy có sự thay đổi rõ rệt: Học sinh đã biết trao đổi, tương tác trong nhóm về các nhân vật trong câu chuyện, nội dung câu chuyện. Học sinh đã biết đóng vai, đóng góp ý kiến trong nhóm về câu chuyện bạn kể, không chen ngang khi người khác đang nói Học sinh mạnh dạn, linh hoạt, tự tin trước tập thể lớp. Thông qua câu chuyện các em đã biểu đạt được thái độ, cảm xúc của mình đối với mỗi nhân vật trong câu chuyện mà các em đã được học. Các em biết yêu thương, đoàn kết với nhau hơn trong học tập và trong cuộc sống. Mỗi câu chuyện giúp các em rút ra được những bài học quý giá cho minh. 6. Kết luận Ý nghĩa của biện pháp: “ Sử dụng thiết bị dạy học số vào dạy học kỹ năng nói nghe tương tác trong môn Tiếng Việt lớp 2 nhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh” có những ý nghĩa thiết thực: Trước hết nó đáp ứng nhu cầu ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong dạy học. Giáo viên đã tích cực mạnh dạn tìm tòi suy nghĩ những thiết bị số phục vụ cho công tác giảng dạy. Nhờ những thiết bị dạy học số mà học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, tích cực, mạnh dạn trong giao tiếp. Học sinh biết tương tác với bạn, với cô giáo, biết trao đổi, bày tỏ ý kiến của mình thông qua các câu chuyện, một vấn đề. Học sinh phát huy được năng lực ngôn ngữ từ những bài học mà giáo viên truyền tải. Từ đó học sinh yêu thích môn học, yêu thích cuộc sống và có những tình cảm cảm xúc chân thật từ những bài học mang đến. Phạm vi áp dụng của biện pháp: Áp dụng tại lớp 2B Một số bài học kinh nghiệm sau: Khi dạy giáo viên cần xác định rõ ràng rằng ngôn ngữ nói khác ngôn ngữ viết. Nó giúp học sinh nói một cách linh hoạt, tự nhiên, tránh được sự máy móc và khô cứng trong biểu đạt ngôn ngữ. Việc học kĩ năng nói nghe tương tác đòi hỏi học sinh phải tự tin vào bản thân. Thầy cô giáo là người tạo dựng, khích lệ, động viên, thúc đẩy sự tự tin đó cho các em. Giáo viên cần đặc biệt chú trọng việc khích lệ, động viên đối với những em bước đầu biết nêu ý kiến theo suy nghĩ của riêng mình để các bạn khác trong lớp học tập. Mọi ý kiến của 11 học sinh dù đúng hay sai, trước tiên cần khen ngợi khả năng suy nghĩ độc lập, sự mạnh dạn, tự tin trong trình bày, sau đó mới giải thích cho học sinh về sự chính xác hay chưa thật chính xác, đúng hay chưa thật đúng. Ngoài ra, để giúp học sinh nói tự tin, mạnh dạn, giáo viên cần cho các em tập các kĩ năng phụ trợ như: Tập hít thở sâu để cảm thấy thư giãn và tự tin trước và trong khi nói; Học cách tiếp xúc mắt với người nghe, biết mỉm cười và nhìn thẳng vào người nghe; Học cách nói rõ ràng, chậm rãi. Giáo viên phải tích cực học tập chuyên môn, sử dụng thành thạo công nghệ thông tin phục vụ cho công tác chuyển đổi số Nhà trường tổ chức các hoạt động trải nghiệm giúp học sinh tăng cường khả năng giao tiếp, tương tác, trò chuyện Nhà trường đầu tư đầy đủ các thiết bị như máy tính, tivi, mạng Internet Biện pháp: ““ Sử dụng thiết bị dạy học số vào dạy học kỹ năng nói nghe tương tác trong môn Tiếng Việt lớp 2 nhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh” của tôi đã được áp dụng tại lớp 2B và mang lại nhiều hiệu quả trong công tác giảng dạy. Biện pháp đã được áp dụng tại các lớp học ở nhà trường và có những tác động đến chất lượng dạy học. Đây là năm thứ 4 chúng ta thực hiện việc đổi mới giáo dục phổ thông năm 2018, đối với bản thân tôi đó là một thách thức một nhiệm vụ, làm thế nào để công tác dạy học của mình ngày một tốt hơn. Những nội dung của biện pháp mà tôi vừa trình bày ở trên là sự nỗ lực trăn trở của bản thân trong thời gian qua. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện do những yếu tố khách quan và khả năng lí luận có hạn. Bởi vậy những giải pháp không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học, đồng nghiệp để các biện pháp được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn! An Thủy, ngày 20 tháng 01 năm 2024 Người viết 12 XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG
File đính kèm:
skkn_bien_phap_su_dung_thiet_bi_day_hoc_so_vao_day_hoc_ky_na.docx

